Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-PT

Ngày 01 tháng 7 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Thế.
  • Các Thẩm phán: Ông Triệu Ngọc Thức và ông Nguyễn Đức Nam.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27/6/2024 và 01/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 20/2024/TLPT-HS ngày 04/5/2024 đối với bị cáo Hoàng Văn Y, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: HOÀNG VĂN YÊU, sinh ngày 30/11/1987 tại huyện N, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Viên chức - Kế toán Trường tiểu học V2 kiêm nhiệm Kế toán Trường mầm non xã V2; chức vụ (đảng, đoàn thể): Là đảng viên Đ, sinh hoạt tại Chi bộ Trường tiểu học V2 (Ngày 01/02/2024, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy N2 ban hành Quyết định số 104-QĐ/UBKTHU, đình chỉ sinh hoạt Đảng Đảng); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị X, sinh năm 1961; có vợ: Hoàng Thị S, sinh năm 1989; có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • - Ông Hoàng Văn V - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
  • - Ông Phan Ngọc Q - Luật sư, Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo, 01 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 4 năm 2023, Trường Mầm non V2 (Sau đây gọi là T) có địa chỉ tại thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang đã phát sinh nhiều khoản nợ, khoản chi không có kinh phí để thanh toán nên Phạm Thị V1 - Chức vụ: Hiệu trưởng (theo Quyết định số 2045/QĐ-UBND ngày 10/11/2015 của Ủy ban nhân dân huyện N2) đưa ra chủ trương lập hồ sơ, chứng từ quyết toán khống tiền thuê nhân viên bảo vệ từ nguồn kinh phí chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước giao cho đơn vị hằng năm nhưng thực tế T không thuê nhân viên bảo vệ và lập hồ sơ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên nấu ăn lớn hơn so với thực tế để lấy tiền thanh toán các khoản nợ, khoản chi không có kinh phí. V1 có nói cho Hoàng Văn Y - Kế toán (theo Quyết định số 2029/QĐ-UBND ngày 15/9/2016 của Ủy ban nhân dân huyện N2) biết ý định làm như thế để có tiền trả nợ. V1 bảo Y cung cấp biểu mẫu hợp đồng lao động, biên bản thanh lý hợp đồng rồi Vĩnh tự soạn thảo hợp đồng, về nhân viên đứng tên hợp đồng do V1 lựa chọn và Vĩnh tự ký phần tên người được ký hợp đồng bảo vệ sau khi hoàn thiện hợp đồng V1 cung cấp tài liệu cho Y và chỉ đạo Y lập khống hồ sơ, chứng từ thanh, quyết toán, đồng thời chỉ đạo thủ quỹ đơn vị là Nông Thị A (Thủ quỹ - giai đoạn năm 2018 đến ngày 31/5/2019); Nguyễn Thị T1 (Thủ quỹ - giai đoạn từ ngày 31/5/2019 tháng 5 năm 2023) nhiều lần rút tiền, quản lý và chỉ khoản tiền này. Gây thiệt hại tổng số tiền là 98.400.000 đồng, cụ thể:

1. Năm ngân sách 2018, Vĩnh lập, ký khống 12 tháng hồ sơ hợp đồng bảo vệ lấy tên Chẩu Thị T2, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (là Hội trưởng hội Phụ huynh). Sau đó chuyển cho Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên bảo vệ, giá trị hợp đồng là 1.300.000 đồng/tháng, gồm:

  • + Chứng từ số PT02, ngày 05/02/2018, với số tiền 2.600.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT05, ngày 07/3/2018, với số tiền 1.300.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT08, ngày 12/4/2018, với số tiền 1.300.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT10, ngày 07/5/2018, với số tiền 1.300.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT16, ngày 07/6/2018, với số tiền 1.300.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT19, ngày 08/8/2018, với số tiền 2.600.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT30, ngày 27/12/2018, với số tiền 5.200.000 đồng.

Tổng cộng 07 lần rút tiền thuê nhân viên bảo vệ của các tháng 01 và 02; 3; 4; 5; 6; 7 và 8; 9 đến 12 năm 2018. Trong đó lần rút tiền tháng 01 và 02 năm 2018 với số tiền 2.600.000 đồng do Nguyễn Thị H sinh năm 1981 trú tại thôn Bản Muồng, xã T, huyện N rút tiền sau đó giao cho A quản lý những lần còn lại do A rút về quản lý và chi theo chỉ đạo của V1. Các khoản chi cụ thể như sau:

  • - Chi 8.080.000 đồng trả tiền ăn các bữa ăn của T tại các quán của Nguyễn Văn T3 sinh năm 1980 trú tại thôn N, xã T; Hoàng Thị X1 sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã T; Nguyễn Thị H1 sinh năm 1987, trú tại thôn Bản Muồng, xã T; Đằng Thị H2 sinh năm 1983, trú tại thôn K, xã H, huyện N.
  • - Chi 560.000 đồng trả tiền phô tô tài liệu, mực in trả tiền cước xe chuyển văn phòng phẩm.
  • - Chi 3.690.000 đồng mua thực phẩm, bánh kẹo, bát đũa, đồ dùng, sửa chữa bàn ghế, trả tiền điện, tiền cước điện thoại để phục vụ hoạt động của T.
  • - Chi 970.000 đồng mừng Hội liên hiệp Phụ nữ xã ngày 08/3/2018; Mừng ngày Đại hội cựu Giáo chức, Ngày nhà Giáo Việt Nam - 20/11/2018; Ủng hộ Đoàn xã rào sân bóng chuyền.
  • - Chi 1.300.000 đồng để mua quà Tết; Mua quà chia tay cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo nghỉ hưu; Viếng đám ma.

2. Năm ngân sách 2019, Vĩnh lập, ký khống 08 tháng hồ sơ hợp đồng bảo vệ đứng tên T2. Sau đó chuyển cho Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên bảo vệ, giá trị hợp đồng là 1.300.000 đồng/tháng, gồm:

  • + Chứng từ số PT08, ngày 11/4/2019, với số tiền 5.200.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT10, ngày 07/5/2019, với số tiền 1.300.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT21, ngày 12/8/2019, với số tiền 3.900.000 đồng.

Tổng cộng 03 lần rút tiền thuê nhân viên bảo vệ của các tháng 01 đến 4; 5; 6 đến 8 năm 2019. Trong đó khoản rút tiền tháng 01 đến 4 và 5 năm 2019 với số tiền 6.500.000 đồng do A rút tiền về quản lý và chi theo chỉ đạo của V1; khoản rút tiền tháng 6 đến 8 năm 2019 với số tiền 3.900.000 đồng do T1 rút tiền về quản lý và chi theo chỉ đạo của V1. Các khoản chi cụ thể như sau:

  • + Số tiền 6.500.000 đồng do A quản lý và chi:
    • - Chi 1.300.000 đồng trả tiền ăn các bữa ăn của T tại các quán của Nguyễn Văn T3.
    • - Chi 390.000 đồng trả tiền mua văn phòng phẩm và trả tiền cước xe chuyển văn phòng phẩm.
    • - Chi 4.210.000 đồng mua thực phẩm, bánh kẹo, bát đũa, đồ dùng, sửa chữa trụ sở, trả tiền điện, tiền cước điện thoại để phục vụ hoạt động của nhà trường.
    • - Chi 600.000 đồng mua quà chia tay cán bộ Sở giáo dục và Đào tạo nghỉ hưu.
  • + Số tiền 3.900.000 đồng do T1 quản lý và chi:
    • - Chi 2.150.000 đồng tiếp đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban nhân dân huyện N2.
    • - Chi 200.000 đồng trả tiền mua tài liệu và tiền cước xe chuyển chứng từ, sách vở.
    • - Chi 1.550.000 đồng mua thực phẩm, bánh kẹo, bát đũa, đồ dùng, trả tiền cước điện thoại để phục vụ hoạt động của trường.

3. Năm ngân sách 2020, Vĩnh lập, ký khống 09 tháng hồ sơ hợp đồng bảo vệ đứng tên T2. Sau đó chuyển cho Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên bảo vệ, giá trị hợp đồng là 1.300.000 đồng/tháng, gồm:

  • + Chứng từ số PT14, ngày 20/7/2020, với số tiền 5.200.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT17, ngày 08/12/2020, với số tiền 6.500.000 đồng.

Tổng cộng 02 lần rút tiền thuê nhân viên bảo vệ của các tháng 4 đến 7; tháng 8 đến 12 năm 2020. Do T1 rút tiền về quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP, ngày 08/9/2020 của Chính phủ, quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2020, T thuộc diện được hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn cho trẻ mầm non và hỗ trợ tiền ăn trưa cho học sinh mẫu giáo. Căn cứ theo số lượng trẻ em mẫu giáo theo học tại trường, Vĩnh lập Tờ trình số 23/TTr-MNTG, ngày 22/10/2020 đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn cho trẻ mầm non và hỗ trợ tiền ăn trưa cho học sinh mẫu giáo học kỳ I năm học 2020-2021. Theo tờ trình, T đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn trưa cho 110 trẻ là 14.400.000 đồng/03 suất nấu. Ngày 21/12/2020, UBND huyện N2 đã ban hành Quyết định số 695/QĐ-UBND, về việc phê duyệt danh sách và giao bổ sung dự toán kinh phí để hỗ trợ nấu ăn, T được giao là 03 suất, số tháng được hỗ trợ là 02 tháng (tháng 11 và 12 năm 2020), với tổng kinh phí 14.400.000 đồng. Tuy nhiên, V1 chỉ thuê 01 nhân viên nấu ăn là Nguyễn Thị T4, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã T, huyện N thỏa thuận tiền công 2.400.000 đồng/tháng. Sau đó, V1 chỉ đạo Y lập các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công nhân viên nấu ăn đủ số lượng theo định mức được giao, sau khi thanh toán tiền cho nhân viên nấu ăn thực tế, V1 đã cung cấp cho Y hợp đồng nhân viên nấu ăn 02 tháng của học kỳ I năm học 2020-2021 đứng tên T4 và lập, ký khống hợp đồng với Nguyễn Thị N giá trị ghi trên hợp đồng là 3.600.000 đồng/tháng/suất nấu ăn để hoàn thiện chứng từ thanh, quyết toán đối với khoản tiền này. Yêu lập Chứng từ số PC22 ngày 28/12/2020, với tổng số tiền 14.400.000 đồng giao cho T1 rút tiền, sau khi T1 rút tiền về quản lý, chi trả tiền công nấu ăn thực tế cho T4 số tiền 4.800.000 đồng. Còn lại 9.600.000 đồng (gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước), T1 quản lý và chi theo chỉ đạo của V1, cụ thể như sau:

  • - Chi 8.305.000 đồng trả tiền ăn các bữa ăn của T tại các quán của Nguyễn Thị H1.
  • - Chi 4.995.000 đồng mua ống nước, đồ dùng học tập, giảng dạy, rửa ảnh, trả tiền điện, tiền cước điện thoại, tiền nước để phục vụ hoạt động của nhà trường.
  • - Chi 1.000.000 đồng mua quà tặng Phòng Giáo dục và Đào tạo.
  • - Tồn quỹ: 7.000.000 đồng.

4. Năm ngân sách 2021, Vĩnh lập, ký khống 10 tháng hồ sơ hợp đồng bảo vệ đứng tên T2. Sau đó chuyển cho Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên bảo vệ, giá trị hợp đồng là 1.300.000 đồng/tháng, gồm:

  • + Chứng từ số PT001, ngày 05/02/2021, với số tiền 2.600.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT005, ngày 14/5/2021, với số tiền 6.500.000 đồng;
  • + Chứng từ số PT009, ngày 16/12/2021, với số tiền 3.900.000 đồng.

Tổng cộng 03 lần rút tiền thuê nhân viên bảo vệ của các tháng 02 đến 3; 4 đến 8; 10 đến 12 năm 2021. Do T1 rút tiền về quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Vĩnh căn cứ theo số lượng trẻ em mẫu giáo theo học tại trường học kỳ II năm học 2020-2021, Vĩnh lập Tờ trình số 02/TTr-MNTG, ngày 29/01/2021 của T về việc đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn, kinh phí hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em nhà trẻ và học sinh mẫu giáo học kỳ II năm học 2020-2021. Theo tờ trình, T đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn trưa cho 121 trẻ là 36.000.000 đồng/03 suất nấu. Ngày 12/4/2021, Ủy ban nhân dân huyện N2 đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-UBND, về việc phê duyệt giao bổ sung dự toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn, T được giao là 03 suất, số tháng được hỗ trợ là 05 tháng (tháng 01 đến tháng 5 năm 2021), với tổng kinh phí 36.000.000 đồng. Tuy nhiên, V1 chỉ thuê 02 nhân viên nấu ăn là T4 và N thỏa thuận tiền công 2.400.000 đồng/tháng/người. V1 đã cung cấp cho Y hợp đồng nhân viên nấu ăn 05 tháng đứng tên T4 và N giá trị ghi trên hợp đồng là 3.600.000 đồng/tháng/suất nấu ăn để hoàn thiện chứng từ thanh, quyết toán đối với khoản tiền này. Yêu lập Chứng từ PC003 ngày 14/5/2021, với số tiền 36.000.000 đồng giao cho T1 rút tiền, sau khi T1 rút tiền về quản lý, chi trả tiền công nấu ăn thực tế cho T4 và N mỗi người 9.600.000 đồng (tiền công nấu ăn tháng 01 đến tháng 4 năm 2021). Tháng 5 năm 2021, do dịch bệnh Covid-19, trẻ được nghỉ học nên không thuê nhân viên nấu ăn. Ngày 17/6/2021, đã nộp trả kinh phí hỗ trợ nấu ăn của 03 suất trong tháng 5 năm 2021, theo phiếu chi số PC007, với số tiền 7.200.000 đồng, còn lại 9.600.000 đồng (gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước), T1 quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Số tiền trên và 7.000.000 đồng tồn quỹ từ học kỳ I, được chi cụ thể như sau:

  • - Chi 15.090.000 đồng mua hoa quả, nước uống, chậu hoa, thuê quần áo đồng phục, đồ dùng sửa chữa trụ sở, ống nước, đồ dùng học tập, giảng dạy, trả tiền điện, tiền cước điện thoại để phục vụ hoạt động của nhà trường.
  • - Chi 3.680.000 đồng trả tiền thay mực máy in và trả tiền cước xe chuyển chứng từ.
  • - Chi tổng cộng 3.300.000 đồng để mua quà Tết; Mua quà chia tay cán bộ chuyển công tác.
  • - Chi tổng cộng 7.530.000 đồng trả tiền ăn các bữa ăn của T tại các quán của Nguyễn Văn T3; Nguyễn Thị H1.

5. Năm ngân sách 2022, V1 căn cứ theo số lượng trẻ em mẫu giáo theo học tại trường học kỳ II năm học 2021-2022, V1 làm Tờ trình số 03/TTr-MNTG, ngày 25/01/2022 của T về việc đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn, kinh phí hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em nhà trẻ và học sinh mẫu giáo học kỳ II năm học 2021-2022. Theo tờ trình, T đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn trưa cho 112 trẻ là 36.000.000 đồng/03 suất nấu. Ngày 21/3/2022, UBND huyện N2 đã ban hành Quyết định số 147/QĐ-UBND, về việc phê duyệt giao bổ sung dự toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn, T được giao là 03 suất, số tháng được hỗ trợ là 05 tháng (tháng 01 đến tháng 5 năm 2022), với tổng kinh phí 36.000.000 đồng. Tuy nhiên, V1 chỉ thuê 02 nhân viên nấu ăn là T4 và N thỏa thuận tiền công 2.400.000 đồng/tháng/người. V1 đã cung cấp cho Y hợp đồng nhân viên nấu ăn 05 tháng đứng tên T4, N lập, ký khống hợp đồng với Nguyễn Thị H3, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã T, huyện N giá trị ghi trên hợp đồng là 3.600.000 đồng/tháng/suất nấu ăn để hoàn thiện chứng từ thanh, quyết toán đối với khoản tiền này. Tháng 3 năm 2022, do dịch bệnh C1, trẻ được nghỉ học nên không thuê nhân viên nấu ăn. Yêu lập Chứng từ PC03 ngày 08/6/2022, với số tiền 28.800.000 đồng giao cho T1 rút tiền, sau khi T1 rút tiền về quản lý, chi trả tiền công nấu ăn thực tế cho T4 và N mỗi người 9.600.000 đồng (tiền công nấu ăn các tháng 01, 02, 4 và 5 năm 2022). Còn lại 9.600.000 đồng (gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước), T1 quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Vĩnh căn cứ theo số lượng trẻ em mẫu giáo theo học tại trường học kỳ I năm học 2022-2023, V1 làm Tờ trình số 13/TTr-MNTG, ngày 02/10/2022 của T về việc đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn, kinh phí hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em nhà trẻ và học sinh mẫu giáo học kỳ I năm học 2022-2023. Theo tờ trình, T đề nghị hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn trưa cho 105 trẻ là 28.800.000 đồng/03 suất nấu. Ngày 08/12/2022, UBND huyện N2 đã ban hành Quyết định số 578/QĐ-UBND, về việc phê duyệt giao bổ sung dự toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn, T được giao là 03 suất, số tháng được hỗ trợ là 04 tháng, với tổng kinh phí 28.800.000 đồng. Tuy nhiên, V1 thuê nhân viên nấu ăn là T4 và N đối với các tháng 9, 10, 11, 12 năm 2022 và thuê Ma Thị N1, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã T, huyện N tuần thứ 3 và thứ 4 của tháng 12/2022 thỏa thuận tiền công 2.400.000 đồng/tháng/người. V1 đã cung cấp cho Y hợp đồng nhân viên nấu ăn 04 tháng đứng tên T4, N và N1 giá trị ghi trên hợp đồng là 3.600.000 đồng/tháng/suất nấu ăn để hoàn thiện chứng từ thanh, quyết toán đối với khoản tiền này. Yêu lập Chứng từ PC05 ngày 16/12/2022, với số tiền 28.800.000 đồng giao cho T1 rút tiền, sau khi T1 rút tiền về quản lý, chi trả tiền công nấu ăn thực tế cho T4 và N mỗi người 9.600.000 đồng (tiền công nấu ăn từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2022) trả cho N1 1.200.000 đồng (tiền công 02 tuần tháng 12 năm 2022). Còn lại 8.400.000 đồng (gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước), T1 quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Tháng 11 năm 2022, Vĩnh lập hồ sơ hợp đồng lao động và biên bản thanh lý hợp đồng đứng tên Hứa Văn S1 sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã T, huyện N (là chồng T1) nhờ Sử ký, S1 đồng ý. Sau đó chuyển cho Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán tiền công thuê nhân viên bảo vệ, giá trị hợp đồng là 1.500.000 đồng/tháng, theo chứng từ số 70, ngày 30/11/2022, với số tiền 4.500.000 đồng, tiền công thuê nhân viên bảo vệ tháng 9 đến 11 năm 2022. Ngày 05/12/2022, S1 nhận được tiền qua tài khoản ngân hàng và đã chuyển trả lại số tiền này cho T thông qua T1. Số tiền này T1 quản lý và chi theo chỉ đạo của V1.

Các khoản chi cụ thể như sau:

  • - Chi tổng cộng 9.300.000 đồng mua hoa quả, đồ ăn, sửa chữa trụ sở, rửa ảnh, tiền cước điện thoại để phục vụ hoạt động của nhà trường.
  • - Chi tổng cộng 10.250.000 đồng trả nợ quán ăn Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thị H1 các bữa ăn của trường.
  • - Chi tổng cộng 860.000 đồng trả tiền phô tô tài liệu, thay mực máy in của trường.
  • - Chi tổng cộng 2.090.000 đồng mua quà chia tay cán bộ nghỉ hưu; Mừng ngày đại đoàn kết dân tộc và mừng chi hội cựu giáo chức nhân ngày 20/11.

6. Tháng 3 năm 2023, V1 đã chỉ đạo Y lập khống các giấy tờ, chứng từ thanh, quyết toán 04 tháng tiền công thuê nhân viên bảo vệ đứng tên S1, giá trị hợp đồng là 1.500.000 đồng/tháng biết theo chứng từ 022, ngày 27/3/2023 tiền công thuê nhân viên bảo vệ tháng 01 đến 3 năm 2023 số tiền 4.500.000 đồng và chứng từ số 030, ngày 26/4/2023 tiền công thuê nhân viên bảo vệ tháng 4 số tiền 1.500.000 đồng, V1 không nói cho S1 biết. Ngày 27/3/2023, tài khoản ngân hàng của S1 nhận được 4.500.000 đồng với nội dung “Trường Mầm non V2 thanh toán tiền công bảo vệ”, S1 hỏi T1 mới biết được. Ngày 29/3/2023 S1 đã chuyển trả lại số tiền này cho T thông qua vợ là T1. Ngày 26/4/2023, S1 tiếp tục nhận được khoản tiền 1.500.000 đồng, ngày 27/4/2023, S1 đã chuyển trả lại số tiền này cho T thông qua vợ là T1. Thức quản lý và chi theo chỉ đạo của V1, các khoản chi cụ thể như sau:

  • - Chi 3.040.000 đồng mua hoa quả, đồ ăn, sửa chữa trụ sở, đồ dùng học tập, giảng dạy, trả tiền điện, tiền cước điện thoại, tiền nước để phục vụ hoạt động của nhà trường.
  • - Chi 2.160.000 đồng mua quà giải thưởng phục vụ hội thi của trẻ.
  • - Chi 800.000 đồng trả tiền ăn quán của Nguyễn Văn T3.

TỔNG CỘNG:

Gây thiệt hại 98.400.000 đồng (Chi sai kinh phí thuê bảo vệ: 61.200.000 đồng, C sai kinh phí thuê nấu ăn: 37.200.000 đồng). Trong đó: Phạm Thị V1 - Hiệu trưởng: Chủ mưu, trực tiếp thực hiện và chỉ đạo thực hiện chi sai 22 lần = 98.400.000 đồng; Hoàng Văn Y - Kế toán: Giúp sức lập chứng từ chi sai 22 lần = 98.400.000 đồng. Nông Thị A - Thủ quỹ: Giúp sức chi sai 22.100.000 đồng. Nguyễn Thị T1 - Thủ quỹ: Giúp sức chi sai 76.300.000 đồng.

Tại bản Bản kết luận giám định số 969/KL-KTHS, ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, xác định:

  1. Mẫu cần giám định ký hiệu A1, A4, A6, A7, A9 có dấu hiệu bị tẩy xóa, chỉnh sửa, ghi đè. Cụ thể:
    • - Trên mẫu cần giám định ký hiệu A1: Bị ghi đè tại chữ số viết tay sau chữ “Ngày” dưới mục “Bộ phận kiểm toán của KBNN” tại trang đánh số thứ tự 2.
    • - Trên mẫu cần giám định ký hiệu A4:
      • + Bị ghi đè sau chữ “đến ngày 31 tháng” dòng 19 tại trang đánh số thứ tự 25, 32.
      • + Bị ghi đè tại chữ số viết tay sau chữ “Căn cứ vào hợp đồng lao động số” tại trang đánh số thứ tự 35.
      • + Bị ghi đè chữ số viết tay sau “Hôm nay ngày” tại trang đánh số thứ tự 37.
    • - Trên mẫu cần giám định ký hiệu A6: Bị ghi đè tại chữ ký dưới mục “NGƯỜI LAO ĐỘNG” tại trang đánh số thứ tự 12”.
    • - Trên mẫu cần giám định ký hiệu A7:
      • + Bị ghi đè sau chữ “Số” dòng 5, sau chữ “Ngày” và “tháng” dòng 6 tại các trang đánh số thứ tự 8, 20; sau chữ “Số” dòng 5 và chữ “tháng” dòng 6 tại trang đánh số thứ tự 35; sau chữ “ngày” dòng 6 và chữ “hợp đồng” dòng 20 tại trang đánh số thứ tự 29; sau chữ “Số” dòng 5 tại trang đánh số thứ tự 31.
      • + Bị tẩy xóa, sửa chữa sau chữ “Số” dòng 5, sau chữ “Ngày” và “tháng” dòng 6 tại các trang đánh số thứ tự 12,16, 39, 43.
    • - Trên mẫu cần giám định ký hiệu A9: Bị ghi đè sau chữ “năm” tại dòng 6 trang đánh số thứ tự 35.
  2. Hình dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN H. NA HANG T. TUYÊN QUANG TRƯỜNG MẦM NON THƯỢNG GIÁP” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A9 với hình dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN H. NA HANG T. TUYÊN QUANG TRƯỜNG MẦM NON THƯỢNG GIÁP” trên mẫu so sánh ký hiệu M1 do cùng một con dấu đóng ra.
  3. Chữ ký đứng tên Phạm Thị V1 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A9 với chữ ký ghi tên Phạm Thị V1 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là do cùng một người ký.
  4. Chữ ký đứng tên Hoàng Văn Y trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A9 với chữ ký ghi tên Hoàng Văn Y trên mẫu so sánh ký hiệu M3 là do cùng một người ký.
  5. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị T1 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A8 (trừ trang đánh số thứ tự 4, 46) với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị T1 trên mẫu so sánh ký hiệu M4 là do cùng một người ký.
    • Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị T1 tại trang đánh số thứ tự 4, 46 trên mẫu cần giám định ký hiệu A8 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị T1 trên mẫu so sánh ký hiệu M4 không phải do cùng một người ký.
  6. Chữ ký đứng tên Nông Thị A trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 với chữ ký ghi tên Nông Thị A trên mẫu so sánh ký hiệu M5 là do cùng một người ký.
  7. Chữ ký đứng tên Chẩu Thị T2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A4 với chữ ký ghi tên Chẩu Thị T2 trên mẫu so sánh ký hiệu M6 không phải do cùng một người ký.
    • Chữ ký dạng chữ viết “T2”, (“Tam”) đứng tên Chẩu Thị T2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 với chữ viết ghi tên Chẩu Thị T2 trên mẫu so sánh ký hiệu M6 không phải do cùng một người viết.
  8. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Hứa Văn S1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 với chữ ký ghi tên Hứa Văn S1 trên mẫu so sánh ký hiệu M7 có phải do cùng một người ký hay không.
  9. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị T4 trên mẫu cần giám định ký hiệu A7, A9 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M8 là do cùng một người ký.
    • Chữ ký dạng chữ viết “Thắm”, đứng tên Nguyễn Thị T4 trên mẫu cần giám định ký hiệu A6, A8 với chữ ký, chữ viết ghi tên Nguyễn Thị T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M8 không phải do cùng một người ký và viết.
  10. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị N trên mẫu cần giám định ký hiệu A6 (trừ trang đánh số thứ tự 5, 12) với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị N trên mẫu so sánh ký hiệu M10 là do cùng một người ký.
    • Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị N tại trang đánh số thứ tự 5, 12 trên mẫu cần giám định ký hiệu A6 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị N trên mẫu so sánh ký hiệu M10 không phải do cùng một người ký.
  11. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị N trên mẫu cần giám định ký hiệu A7, A8 (trừ trang đánh số thứ tự 4, 46), A9 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị N trên mẫu so sánh ký hiệu M9 là do cùng một người ký.
    • Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị N tại trang đánh số thứ tự 4, 46 trên mẫu cần giám định ký hiệu A8 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị N trên mẫu so sánh ký hiệu M9 không phải do cùng một người ký.
  12. Chữ ký đứng tên Ma Thị N1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A8 (trừ trang đánh số thứ tự 46), A9 với chữ ký ghi tên Ma Thị N1 trên mẫu so sánh ký hiệu M11 là do cùng một người ký.
    • Chữ ký (dạng chữ viết) “Nang” đứng tên Ma Thị N1 tại trang đánh số thứ tự 46 trên mẫu cần giám định ký hiệu A8 với chữ viết ghi tên Ma Thị N1 trên mẫu so sánh ký hiệu M11 không phải do cùng một người viết.
  13. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A8 với chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H3 trên mẫu so sánh ký hiệu M12 không phải do cùng một người ký.
  14. Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A10 (trừ các chữ viết mực đỏ tại trang đánh số thứ tự 15,23, 24, 25, 26, 27) với chữ viết, chữ số trên mẫu so sánh ký hiệu M4, M13 là do cùng một người viết.
    • Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A11 với chữ viết, chữ số trên mẫu so sánh ký hiệu M4, M13 là do cùng một người viết. Trừ:
      • - T5 đánh số thứ tự 2: Chữ ký, chữ viết đứng tên Nông Thị A tại dòng thứ tự 12, 13.
      • - T5 đánh số thứ tự 5: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 9, 12, 14, 15, 18, 19, 21, 22, 23.
      • - T5 đánh số thứ tự 11: Chữ viết “xem lại” cuối dòng 26.
      • - T5 đánh số thứ tự 17: Các chữ viết “Thông qua tài chính từ đây” tại dòng 27; chữ viết “tiền điện nhà trường” tại dòng 28.
      • - T5 đánh số thứ tự 21: Chữ ký, chữ viết ghi tên Nguyễn Văn T6 tại dòng 25, 26; chữ ký, chữ viết ghi tên Phạm Thị V1 tại dòng 32.
      • - T5 đánh số thứ tự 71: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 13, 16, 18, 19, 20, 21.
      • - T5 đánh số thứ tự 72: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 6, 14, 15, 19, 22, 25, 25, 28, 29.
      • - T5 đánh số thứ tự 75: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 6, 8, 10, 12, 14, 16.
      • - T5 đánh số thứ tự 76: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 4, 6, 8, 10, 12, 14.
      • - T5 đánh số thứ tự 80: Chữ ký cuối các dòng 6, 9, 13, 15, 16, 17, 19.
      • - T5 đánh số thứ tự 82: Chữ ký tại dòng 20.
      • - T5 đánh số thứ tự 84: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 6, 7, 9, 11, 14, 15.
      • - T5 đánh số thứ tự 88: Chữ ký cuối các dòng 7,9, 13, 15, 17.
      • - T5 đánh số thứ tự 89: Chữ ký cuối các dòng 10, 12, 16, 19, 20, 22, 24.
      • - T5 đánh số thứ tự 91: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 8, 11, 14, 16, 17, 20, 21, 23, 25.
      • - T5 đánh số thứ tự 92: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 6, 9, 12, 16, 17, 18, 21, 22.
      • - T5 đánh số thứ tự 93: Chữ ký cuối các dòng 12, 14, 16, 18, 20, 22.
      • - T5 đánh số thứ tự 94: Chữ ký cuối các dòng 5, 8, 11, 14, 17, 20, 23, 26, 30, 32.
      • - T5 đánh số thứ tự 95: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 4. 6. 7. 9. 11. 13.
      • - T5 đánh số thứ tự 96: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18.
      • - T5 đánh số thứ tự 97: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 8, 10, 12, 14, 15, 21, 26.
      • - T5 đánh số thứ tự 98: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 9, 11, 13, 14, 15, 16, 18, 20, 29, 31.
      • - T5 đánh số thứ tự 99: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 12, 17, 19.
      • - T5 đánh số thứ tự 100: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 7, 9.
      • - T5 đánh số thứ tự 101: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 21, 27; chữ ký ghi tên Trịnh Thị Â tại góc dưới bên phải.
      • - T5 đánh số thứ tự 102: Chữ ký, chữ viết ghi tên Trịnh Thị Â.
      • - T5 đánh số thứ tự 103: Chữ ký dòng 7, 10; chữ viết “Nguyễn Thị T7” dòng 11, chữ viết “Nguyễn Thị M” dòng 14.
      • - T5 đánh số thứ tự 104, 105: Toàn bộ các chữ viết, chữ số, trừ chữ số viết bằng mực màu xanh tại trang đánh số thứ tự 105.
      • - T5 đánh số thứ tự 106: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 10, 11, 14, 15, 19, 20, 24, 25, 27, 28.
      • - T5 đánh số thứ tự 107: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 7, 10, 11, 14, 15, 18, 19, 24, 25, 29, 31.
      • - T5 đánh số thứ tự 108: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 6, 8, 10, 12, 14, 17, 22, 24.
      • - T5 đánh số thứ tự 110: Chữ ký tại dòng 31.
      • - T5 đánh số thứ tự 111: Chữ ký cuối các dòng 4, 6, 8, 10, 12, 14, 20, 23, 24, 26, 28, 31.
    • Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A12 với chữ viết, chữ số trên mẫu so sánh ký hiệu M5, M14 là do cùng một người viết. Trừ:
      • - T5 đánh số thứ tự 11: Các chữ ký tại cột “Kí nhận” (trừ chữ ký đứng tên Nông Thị A).
      • - T5 đánh số thứ tự 14: Chữ ký cuối dòng 6.
      • - T5 đánh số thứ tự 113: Chữ ký cuối các dòng 5, 6, 9, 10, 13, 14, 17, 18, 21, 22, 25, 27.
      • - T5 đánh số thứ tự 115: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 5, 8, 11, 14, 17, 19, 23, 26, 29.
      • - T5 đánh số thứ tự 116: Chữ ký, chữ viết cuối các dòng 16, 20.
      • - T5 đánh số thứ tự 117: Chữ ký cuối các dòng 5, 7, 9, 11, 13, 15.
      • - T5 đánh số thứ tự 119: Chữ ký, chữ viết ghi tên Trương Thị D.
      • - T5 đánh số thứ tự 121: Chữ ký cuối các dòng 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 20.

Tại bản Bản kết luận giám định số 1240/KL-KTHS, ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, xác định:

  1. Mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A9 không phát hiện dấu hiệu bị tẩy xóa, chỉnh sửa, ghi đè.
  2. Hình dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN H. NA HANG T. TUYÊN QUANG TRƯỜNG MẦM NON THƯỢNG GIÁP” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A9 với hình dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN H. NA HANG T. TUYÊN QUANG TRƯỜNG MẦM NON THƯỢNG GIÁP” trên mẫu so sánh ký hiệu M1 do cùng một con dấu đóng ra.
  3. Chữ ký đứng tên Phạm Thị V1 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A9 với chữ ký ghi tên Phạm Thị V1 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là do cùng một người ký.
  4. Chữ ký đứng tên Hoàng Văn Y trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1, A2, A3, A4, A5 với chữ ký ghi tên Hoàng Văn Y trên mẫu so sánh ký hiệu M3 là do cùng một người ký.
  5. Chữ ký đứng tên Nông Thị A trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A4 với chữ ký ghi tên Nông Thị A trên mẫu so sánh ký hiệu M4 là do cùng một người ký.
  6. Chữ ký dạng chữ viết “Tam”, (“T2”) đứng tên Chẩu Thị T2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A5, A6, A7, A8, A9 với chữ viết ghi tên Chẩu Thị T2 trên mẫu so sánh ký hiệu M5 không phải do cùng một người viết.

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + Tạm giữ của T: 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2018 của T, gồm 43 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2019 của T, gồm 31 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2020 của T, gồm 28 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2021 của T, gồm 37 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2022 của T, gồm 12 tờ; 01 tập chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thuê nhân viên bảo vệ năm 2023 của T, gồm 04 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn cho trẻ mầm non năm 2020 của T, gồm 13 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn cho trẻ mầm non năm 2021 của T, gồm 44 tờ; 01 tập hồ sơ chứng từ thanh, quyết toán kinh phí hỗ trợ tổ chức nấu ăn cho trẻ mầm non năm 2022 của T, gồm 82 tờ; 01 tập hồ sơ hợp đồng giao khoán, biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán về việc nấu ăn cho trẻ mầm non năm 2023 của T, gồm 35 tờ;
  • + Tạm giữ của Nguyễn Thị T1: 01 quyển sổ, bìa màu đen, bên ngoài sổ có in chữ màu vàng “MC - A4 Ricoh”, dán giấy màu trắng in chữ màu đen với nội dung “Sổ tài chính Năm học 2022-2023”. Gồm 35 trang, được đánh số từ trang 1 đến trang 35; 01 quyển sổ, bìa màu đen, bên ngoài sổ có in chữ màu vàng “MC - A4 Ricoh”, gồm 111 trang, được đánh số từ trang 1 đến trang 111. Trong đó, tại trang 1 có viết chữ “MN Thượng Giáp Sổ Thu Chi 2019-2020”;
  • + Tạm giữ của Nông Thị A: 01 quyển sổ, bìa màu đen, bên ngoài sổ có in chữ màu vàng “MC - A4 Ricoh”, gồm 121 trang, được đánh số từ trang 1 đến trang 121.

Số tiền 98.400.000 đồng, trong đó: Phạm Thị V1 giao nộp 35.000.000 đồng; Hoàng Văn Y giao nộp 30.565.000 đồng; Nguyễn Thị T1 giao nộp 25.435.000 đồng; Nông Thị A giao nộp 7.400.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V1, Hoàng Văn Y, Nguyễn Thị T1, Nông Thị A phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
    • Phạm Thị V1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
    • Hoàng Văn Y 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Thị T1 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nông Thị A; quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08 tháng 4 năm 2024, bị cáo Hoàng Văn Y có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:

  • - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
  • - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, nhưng cấp sơ thẩm quy kết số tiền thiệt hại theo năm ngân sách, mỗi một năm tính một lần phạm tội là không có căn cứ, gây bất lợi cho bị cáo và những đồng phạm khác, các bị cáo đã 22 lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhưng thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra từng lần đều chưa đủ định lượng để cấu thành tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, nên cần căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ để xác định tổng thiệt hại do bị cáo Hoàng Văn Y và các đồng phạm khác gây ra là 98.400.000 đồng và truy cứu, xét xử bị cáo và các đồng phạm khác theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự.

Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Y xuất trình những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ Điều 345; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 357 BLTTHS, Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang về phần áp dụng khoản của điều luật và giữ nguyên mức hình phạt đối với Phạm Thị V1 và Nguyễn Thị T1 như sau:
    • + Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị V1 01 năm 03 tháng tù, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
    • + Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 01 năm tù cho hưởng án treo, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Y, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang về phần áp dụng khoản của điều luật và hình phạt đối với bị cáo như sau: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Y 01 năm 01 tháng tù, cho hưởng án treo, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Thời gian thử thách 02 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ:

  • + Luật sư Phan Ngọc Q xác định cấp sơ thẩm quy kết số tiền thiệt hại theo năm, mỗi một năm tính một lần phạm tội là không có căn cứ, gây bất lợi cho bị cáo và những đồng phạm khác, hơn nữa chính cách tính của cấp sơ thẩm cũng có mâu thuẫn khi cộng thiệt hại của năm 2022 với nửa đầu năm 2023 là một lần phạm tội; trong trường hợp này cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội và xác định đúng từng hành vi vi phạm là độc lập, cụ thể các đồng phạm đã thực hiện 22 lần lập khống các hợp đồng lao động, chứng từ kế toán và chi sai mục đích từ năm 2018 đến năm 2023, lần gây thiệt hại ít nhất là 1.300.000 đồng, lần gây thiệt hại nhiều nhất là 9.600.000 đồng đều chưa đủ định lượng gây thiệt hại theo quy định tại Điều 356 Bộ luật hình sự nên không cấu thành tội phạm; nếu hành vi của bị cáo và các đồng phạm khác cấu thành tội phạm thì cũng chỉ vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự, không vi phạm khoản 2 Điều 356 như cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử đối với bị cáo và các đồng phạm khác trong vụ án. Đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo Y được hưởng án treo như kháng cáo của bị cáo.
  • + Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm và đề nghị của luật sư.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Y tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai các bị cáo khác trong vụ án; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định số 969/KL-KTHS, ngày 12/9/2023 và Kết luận giám định số 1240/KL-KTHS, ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu giữ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 4 năm 2023 tại Trường Mầm non V2, thuộc thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Thị V1 với chức trách nhiệm vụ là Hiệu trưởng T không thuê nhân viên bảo vệ và thuê nhân viên nấu ăn ít hơn so với chỉ tiêu được giao đã 22 lần chỉ đạo kế toán là Hoàng Văn Y lập khống chứng từ thanh quyết toán và chỉ đạo các thủ quỹ Nông Thị A và Nguyễn Thị T1 lập khống chứng từ thanh quyết toán, chi sai mục đích gây thiệt hại tổng số tiền 98.400.000 đồng (lần gây thiệt hại ít nhất là 1.300.000 đồng, lần gây thiệt hại nhiều nhất là 9.600.000 đồng).

Các đồng phạm khác trong vụ án là Phạm Thị V1, Nguyễn Thị T1 tuy không có kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng trên thực tế các bị cáo đã 22 lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhưng thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra từng lần đều chưa đủ định lượng để cấu thành tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, nên cần căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ để xác định tổng thiệt hại do các bị cáo gây ra là 98.400.000 đồng và xét xử các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự. Nhưng cấp sơ thẩm quy kết số tiền thiệt hại theo năm ngân sách, mỗi một năm tính một lần phạm tội là không có căn cứ, gây bất lợi cho các bị cáo.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm để sửa bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Phạm Thị V1, Nguyễn Thị T1, Hoàng Văn Y về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự. Về hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp nên cần giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo Phạm Thị V1, Nguyễn Thị T1.

Bị cáo Nông Thị A đã bị xét xử theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Y thấy rằng, bị cáo không kêu oan mà chỉ xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục xuất trình Bằng tổ quốc ghi công, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, Huân chương kháng chiến hạng ba của ông nội bị cáo là cụ Hoàng Văn T8; giấy khen của bị cáo trong quá trình công tác; công văn xin cho bị cáo được hưởng án treo của Trường Tiểu học V2; Trường Mầm non V2 và Đơn đề nghị xác nhận bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống và làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với và trò là đồng phạm giúp sức, không vụ lợi cá nhân; sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ phần thiệt hại do bị cáo gây ra, làm giảm đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo.

[3] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 345; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 357 BLTTHS. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang về phần áp dụng khoản của điều luật và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị Phạm Thị V1 và Nguyễn Thị T1 như sau:

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị V1 01 năm 03 tháng tù, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 01 năm tù cho hưởng án treo, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Y, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang về áp dụng khoản của điều luật và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Văn Y như sau:

  • Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Y 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, cho hưởng án treo, về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Thời gian thử thách 02 năm 02 tháng. Thời hạn thử thách tình từ ngày tuyên án phúc thẩm 01/7/2024.

Cấm bị cáo Hoàng Văn Y đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn Y cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; giao bị cáo Nguyễn Thị T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn Y không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (01/7/2024)./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nam

Triệu Ngọc Thức

Bàn Văn Thế

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh T.Quang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh TQuang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBKT huyện ủy Na Hang;
  • - TAND huyện Na Hang;
  • - VKSND huyện Na Hang;
  • - CQCSĐT Công an huyện Na Hang;
  • - Chi cục THA huyện Na Hang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị cáo không kháng cáo;
  • - Người bào chữa cho BC;
  • - Văn phòng TAND tỉnh;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bàn Văn Thế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 17/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger