|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày 25 – 02 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An
Bà Đỗ Thị Kim Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Đỗ Văn T, sinh ngày 16/6/1993 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Khổng Thị T1; có vợ là Lê Thị Bích P và một con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
- Lê Thị Bích P, sinh ngày 04/11/1993 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị Phi N; có chồng là Đỗ Văn T và một con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
- Đặng Quang T3, sinh ngày 23/6/1978 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Chuyên viên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ (Ủy ban kiểm tra - Huyện ủy B2 đã có quyết định số 153-QĐ/UBKT ngày 12/12/2024 đình chỉ sinh hoạt đảng đối với Đặng Quang T3); quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N1 và bà Phan Thị Q; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và hai con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Khổng Thị T1, sinh năm1971, HKTT: TDP Đ, TT Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt)
- Khổng Thị Phương T4, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Dương Thị Phương D1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Tạ Văn K, sinh năm 1966; địa chỉ: TDP T, TT B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Tạ Văn D2, sinh năm 1970; địa chỉ: TDP T, TT B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Dương Văn B, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Á, xã S, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Nguyễn Văn H1; sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Kiều Huy T5, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố A, TT H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Trần Ngọc Y, sinh năm 1973; địa chỉ: TDP T, TT H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Phạm Thùy D3, sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Vũ Viết N2, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu đô thị N, phường K, TP V, Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Tạ Hùng C, sinh năm 1990; đia chỉ: Thôn L, xã P, huyện B, Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Nguyễn Mạnh L, sinh năm 1988; địa chỉ: TDP C, TT H, huyện B, Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Lê Thị L1, sinh năm 199; đia chỉ: Thôn K, xã V, huyện M, TP Hà Nội (Vắng mặt).
- Cao Duy H2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Trần Quang T6, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A phố Đ, phường C, quận B, TP Hà Nội (Vắng mặt).
- Trần Phi L2, sinh năm 1982; địa chỉ: TDP G, phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hộ kinh doanh Khổng Thị T1 được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1918005738 do Phòng Tài chính, kế hoạch huyện T cấp, đăng ký lần đầu ngày 24/01/2022, chủ hộ kinh doanh Khổng Thị T1, sinh năm1971, HKTT: TDP Đ, TT Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngành nghề kinh doanh: Gốm sứ mỹ nghệ, đồ gỗ, văn phòng phẩm, sách giáo khoa, công cụ, dụng cụ văn phòng; quần áo may sẵn, dụng cụ thể thao, hàng tạp hóa, điện tử, điện lạnh; đồ gỗ nội thất, vật tư ngành in, hoa, cây xanh, lương thực, thực phẩm; photocopy, in ấn; cho thuê trang phục biểu diễn, cho thuê thiết bị máy móc phục vụ các hoạt động tổ chức sự kiện; dịch vụ dọn dẹp, vệ sinh, bốc xếp hàng hóa; dịch vụ lưu trú, ăn uống. Địa điểm kinh doanh: TDP Đ, TT Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 25/01/2022, hộ kinh doanh Khổng Thị T1 được Chi cục thuế khu vực T8 cấp mã số thuế: 8661887748-001. Sau khi được cấp mã số thuế hộ kinh doanh Khổng Thị T1 kê khai, nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực T8 - T, hình thức kê khai, nộp thuế: Trực tiếp trên doanh thu. Sau khi đăng ký kinh doanh và được cấp mã số thuế bà Khổng Thị T1 chỉ kinh doanh bán hàng tạp hóa, dịch vụ lưu trú tại địa chỉ nêu trên, còn các ngành nghề khác bà Khổng Thị T1 không kinh doanh. Để thuận lợi cho quá trình kinh doanh bà Khổng Thị T1 đã giao tài khoản truy cập phần mềm xuất hóa đơn điện tử do Cơ quan thuế cấp cho hộ kinh doanh Khổng Thị T1 được gửi vào địa chỉ E: cuahangvpptunga@gmail.com của Đỗ Văn T, sinh năm 1993, HKTT: TDP Đ, TT Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (con trai bà T1) để T quản lý, xuất hóa đơn cho người mua và kê khai nộp thuế. Tuy nhiên sau khi được giao quản lý tài khoản truy cập phần mềm hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh Khổng Thị T1, T đã cài đặt mật khẩu truy cập phần mềm quản lý hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh Khổng Thị T1 là “Thangphuong1S2" và cùng vợ là Lê Thị Bích P, sinh năm 1993, ở khu phố B, TT H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng để xuất hóa đơn bán hàng cho khách hàng đến mua hàng tại cửa hàng văn phòng phẩm T của vợ chồng T tại địa chỉ khu phố B, thị trấn H. Quá trình kinh doanh Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P đã xuất bán trái phép các hóa đơn điện tử ghi khống nội dung một số hàng hóa mà T, P không kinh doanh cho các đơn vị nhà nước và tổ chức, doanh nghiệp sử dụng để hợp thức hàng hóa mua thực tế nhưng không có hóa đơn. Với mỗi số hóa đơn bán trái phép Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P thu của người mua từ 5% đến 20% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Trong năm 2023, T, P đã bán trái phép hóa đơn cho 19 cá nhân, tổ chức với tổng số 54 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa, thu tổng số tiền bán hóa đơn được 111.473.737 đồng, trong đó tiền thu lợi bất chính 86.081.547 đồng (có bảng kê chi tiết kèm theo), cụ thể:
- Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện B: Năm 2023 Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện B được UBND huyện B2 giao dự toán chi số tiền 1.385.800.000 đồng, trong đó chi sự nghiệp kinh tế 655.850.000 đồng, chi quản lý hành chính số tiền 829.950.000 đồng. Ngày 29/12/2023, UBND huyện B2 có Quyết định số 3903/QĐ-UBND về việc bổ sung kinh phí cho các đơn vị năm 2023, trong đó Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện B được giao bổ sung ngân sách số tiền 438.050.000 đồng cho các hoạt động chuyên môn: Kinh phí tổ chức phát động Tết trồng cây; thực hiện tuyên truyền về phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản; triển khai các nhiệm vụ trọng tâm nhằm tăng cường năng lực kiểm soát dịch bệnh động vật và bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) có nguồn gốc động vật; Tuyên truyền về nông thôn mới (NTM) nâng cao, NTM kiểu mẫu và duy trì các tiêu chí NTM; Kinh phí tổ chức tập huấn công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT& TKCN) năm 2023; Kinh phí tuyên truyền Nghị quyết số 19- NQ/TW ngày 26/6/2022... Phòng NN& PTNT huyện B giao cho Đặng Quang T3, sinh năm 1978 - Chuyên viên, kiêm kế toán mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ công tác, nhiệm vụ trên của Phòng. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đặng Quang T3 đã mua hàng hóa, dịch vụ gồm: Cây xanh phục vụ tết trồng cây tại UBND xã T; Thuê loa đài phục vụ công tác tuyên truyền phòng chống dịch tả lợn C; Đặt cơm, nước uống cho các đại biểu dự hội nghị tập huấn công tác phòng chống dịch, Phòng chống thiên tai & Tìm kiếm cứu nạn... Tuy nhiên khi mua cây và sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ nêu trên các đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa không có hóa đơn xuất trả cho Phòng NN & PTNT huyện B. Để có hóa đơn hợp thức chứng từ mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ và thanh toán với ngân sách nhà nước, Đặng Quang T3 đã mua của Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P 14 hóa đơn của hộ kinh doanh Khổng Thị T1 ghi khống nội dung hàng hóa với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 359.979.900 đồng, T3 đã trả cho vợ chồng T, P 16% tiền mua hoá đơn là 57.596.784 đồng. Số tiền mua hóa đơn này T3 lấy nguồn tiền từ ngân sách nhà nước thanh toán 14 số hóa đơn nêu trên.
Về hành vi mua 14 hóa đơn của Đặng Quang T3, xác định số hóa đơn này được sử dụng cho các khoản chi có thật, Đặng Quang T3 không có động cơ vụ lợi cá nhân hoặc động cơ vụ lợi khác nên Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh V đã khởi tố bị cáo đối với T3 về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS.
- Phòng Nội vụ huyện B: Năm 2023 Phòng Nội vụ huyện B được UBND huyện B2 giao dự toán chi ngân sách số tiền 4.789.341.000 đồng, trong đó chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo 150.060.000 đồng, chi phí quản lý hành chính 4.639.281.000đ. Quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của Phòng theo kế hoạch đã đề ra như tổ chức hội nghị tập huấn Luật lao động và chế độ chính sách mới cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã; Tổ chức kỳ thi kiểm tra kiến thức cán bộ công chức cấp huyện và cấp xã H; Hội nghị đối thoại thanh niên năm 2023; Hội nghị đối thoại nhân dân thôn N, xã S; Hội nghị tổng kết công tác tôn giáo năm 2023; Hội nghị tuyên truyền Nghị quyết 20 về người hoạt động không chuyên trách cấp xã và Đại hội công đoàn huyện nhiệm kỳ 2023- 2028. Khi tổ chức hội nghị Phòng Nội vụ giao cho bà Khổng Thị Phương T4 là chuyên viên, kiêm kế toán của Phòng đặt cơm, nước uống cho các đại biểu tham dự hội nghị trên tại một số nhà hàng trên địa bàn huyện, tuy nhiên sau khi ăn, uống các nhà hàng này không có hóa đơn xuất cho Phòng Nội vụ. Để có hóa đơn làm chứng từ thanh quyết toán với ngân sách nhà nước, bà Khổng Thị Phương T4 đã mua của T 08 hóa đơn ghi khống nội dung đặt cơm, nước uống... với tổng số tiền ghi trên 08 hóa đơn là 144.920.810 đồng. Bà T4 phải trả cho T 16% tiền mua hóa đơn là 23.187.330 đồng. Số tiền mua hóa đơn này bà T4 lấy từ ngân sách nhà nước thanh toán đối với 08 số hóa đơn trên.
Quá trình điều tra ngày 30, 31/01/2024, bà T4 đã tự nguyện nộp trả lại ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền 144.920.810 đồng chi ăn cho các hội nghị tập huấn và tuyên truyền nêu trên.
- UBND xã T: Năm 2023 Đảng ủy xã tổng kết công tác đảng, gặp mặt đảng viên nhân dịp tết nguyên đán Quỹ Mão. Khi tổ chức các hội nghị Đảng ủy xã T có tổ chức ăn uống và giao cho chị Dương Thị Phương D1 - Cán bộ ăn phòng Đảng ủy xã T đặt cơm tại một số nhà hàng trên địa bàn xã, tuy nhiên sau khi ăn, các cơ sở này không có hóa đơn xuất trả cho Đảng ủy xã T. Để thanh, quyết toán các khoản chi này bà D1 đã mua của Lê Thị Bích P 04 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa (đặt cơm, nước uống) với tổng số tiền ghi trên 04 hóa đơn là 32.672.120 đồng, chị D1 phải trả cho vợ chồng T, P 15% số tiền mua hóa đơn là 4.900.818 đồng, số tiền này chị D1 lấy từ nguồn tiền quyết toán ngân sách nhà nước các khoản chi trên.
- Trường THCS B3: Tết Nguyên đán năm 2023 và lễ trồng cây dịp khai giảng năm học mới 2023- 2024, Trường THCS B3 đã mua cây đào, cây quất tại khu công nghiệp B và mua hoa của một số cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ các cơ sở, cá nhân kinh doanh này không có hóa đơn xuất trả cho trường THCS B3. Ông Tạ Văn K - Kế toán của trường đã liên hệ với T mua 03 hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa (cây đào, cây quất, hoa..) với tổng số tiền ghi trên 03 hóa đơn là 34.461.560 đồng, ông K phải trả cho T 10% tiền mua hóa đơn là 3.446.156 đồng, số tiền này ông K lấy từ nguồn tiền quyết toán ngân sách nhà nước các khoản chi trên.
- Trường THCS G: Tết Nguyên đán năm 2023, ông Tạ Văn D2 - Kế toán Trường THCS G đã mua cây đào, quất tại chợ G1 để trang trí tết và mua cây phượng vĩ ở xã H về thay cây phượng bị chết ở sân trường, khi mua các cơ sở kinh doanh này không có hóa đơn xuất trả cho trường THCS G. Ông D2 đã mua của T 02 hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa với tổng số tiền ghi trên 02 số hóa đơn là 13.950.000 đồng, ông D2 phải trả cho T 10% tiền mua hóa đơn là 1.395.000đ, số tiền này ông D2 lấy từ nguồn tiền quyết toán ngân sách nhà nước các khoản chi trên.
- UBND xã S: Đầu năm 2023, UBND xã S đã huy động số cán bộ làm nhiệm vụ tập trung làm thủ tục cho 22 tân binh lên đường nhập ngũ, ông Dương Văn B - Chỉ huy trưởng quân sự xã đã liên hệ đặt cơm bình dân tại nhà hàng D4 ở thị trấn H, huyện B. Tuy nhiên sau khi đặt cơm, nhà hàng không có hóa đơn xuất cho ông B. Để có hóa đơn làm chứng từ thanh, quyết toán với ngân sách nhà nước, ông B đã mua của T 01 hóa đơn ghi khống nội dung đặt cơm trưa 64 xuất, đặt cơm tối 44 xuất với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 7.720.000 đồng. Ông B phải trả cho T 10% tiền mua hóa đơn là 772.000 đồng, số tiền này ông B lấy từ nguồn tiền quyết toán ngân sách nhà nước từ các khoản chi trên.
Cũng trong năm 2023, UBND xã S tổ chức hội nghị thống kê diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng vụ Đông X và vụ mùa năm 2022 - 2023. Sau khi tổ chức hội nghị, UBND xã giao cho ông Nguyễn Văn H1 - Cán bộ Văn phòng thống kê đặt cơm tại quán D5 thuộc xã S, tuy nhiên do nhà hàng D6 không có hóa đơn xuất cho ông H1. Ông H1 đã mua của T 02 hóa đơn ghi khống nội dung đặt cơm với tổng số tiền ghi trên 02 hóa đơn là 4.685.000 đồng. Ông H1 phải trả cho T số tiền 10% tiền mua hóa đơn là 468.500 đồng, số tiền này ông H1 lấy từ lấy từ nguồn tiền quyết toán ngân sách nhà nước từ các khoản chi trên.
- Trường THPT B4: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, ông Kiều Huy T5 - Cán bộ văn phòng trường THPT B4 thay thế sửa chữa các bóng đèn trong lớp học bị cháy, thay quạt trần, sửa chữa ổ khóa cửa, bản lề cửa sổ. Do số lượng hàng hóa ít và không tiến hành thay thế, sửa chữa thường xuyên nên mỗi lần bị hỏng cần sửa chữa, thay thế ông T5 ra các cửa hàng K1, đồ điện gần trường để mua rồi về lắp đặt, tuy nhiên sau khi mua các cửa hàng đồ điện, đồ kim khí này không có hóa đơn xuất trả cho ông T5. Ông T5 đã mua của Lê Thị Bích P 02 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa với tổng số tiền ghi trên 02 hóa đơn là 56.359.720 đồng. Ông T5 phải trả cho P 10% tiền mua hóa đơn là 5.635.972 đồng.
- UBND thị trấn H: Tết Nguyên đán năm 2023 ông Trần Ngọc Y - Công chức văn phòng thống kê thị trấn H, huyện B đã mua cây đào, quất của một số cá nhân tại chợ H4 để trang trí tết nhưng các hộ kinh doanh này không có hóa đơn. Ông Y đã mua của T5 01 hóa đơn ghi khống hàng hóa là cây đào, cây quất với tổng số tiền trên hóa đơn là 24.000.000 đồng. Ông Y phải trả cho T5 10% tiền mua hóa đơn là 2.400.000đ. Số tiền mua hóa đơn này ông Y lấy từ ngân sách nhà nước thanh toán đối với số hóa đơn trên.
- Trường THPT T9: Trong quá trình thực nhiệm vụ giảng dạy và mua sắm vật tư, dụng cụ vệ sinh trường, bà Trần Thị Thu H3 - Cán bộ văn phòng nhà trường mua các đồ dùng: Chổi cọ bệt, sàn; bột thông cống; men xử lý bể phốt; thùng rác, nước tẩy rửa bồn cầu; xà phòng rửa tay; nước rửa tay lifebooy, túi nilon tại một số cửa hàng tạp hóa trên địa bàn xã T, huyện L. Tuy nhiên khi mua hàng của các cửa hàng này không có hóa đơn bán hàng nên bà H3 đã nhờ bà Phạm Thùy D3 - Cán bộ làm cùng trường tìm mua hộ hóa đơn để hợp thức chứng từ quyết toán với Trường THPT T9, bà D3 đồng ý và thông qua người quen giới thiệu, bà D3 đã mua của T5 01 hoá đơn ghi khống hàng hoá nêu trên với số tiền ghi trên hóa đơn là 21.210.000 đồng. Bà D3 phải trả cho T5 05% tiền mua hoá đơn là 1.060.500 đồng. Bà D3 thanh toán bằng tiền mặt cho T5 và trực tiếp nhận hóa đơn từ T5 về đưa cho bà H3 làm thủ tục thanh toán với Trường THPT T9 từ quỹ vệ sinh chung của nhà trường.
- Công ty TNHH V: Tháng 11/2023, Công ty TNHH V giao cho anh Vũ Viết N2, sinh năm 1998, hiện ở KĐT N, phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc là nhân viên kinh doanh của công ty phụ trách địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm và quảng cáo sản phẩm của Công ty cho các hộ chăn nuôi tại địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi tổ chức hội thảo anh N2 tổ chức mời các hộ kinh doanh ăn, uống tại nhà hàng ở địa bàn huyện T. Tuy nhiên sau khi ăn, cơ sở kinh doanh này không có hóa đơn bán hàng xuất trả cho anh N2. Để có hóa đơn làm chứng từ thanh toán với Công ty TNHH V, thông qua một số người giới thiệu anh N2 đã mua của P 01 hoá đơn ghi khống đặt cơm hội nghị với số tiền 19.221.480 đồng, anh N2 phải trả 16% tiền mua hoá đơn là 3.075.000 đồng.
- Công ty TNHH O: Trong năm 2023, anh Tạ Hùng C, sinh năm 1990, HKTT: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnhVĩnh P1 làm việc tại bộ phận chăm sóc khách hàng được Công ty TNHH O1 giao nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm, đón tiếp khách đến làm việc. Quá trình làm việc anh C mời khách đi ăn tại một số quán theo yêu cầu của khách, sau khi ăn các cơ sở kinh doanh này không có hóa đơn xuất trả cho anh C. Anh C đã mua của P 05 số hóa đơn ghi khống nội dung lẩu hải sản với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 9.900.000 đồng. Anh C phải trả cho P 10% tiền mua hóa đơn là 990.000 đồng. Các hóa đơn này sau đó đã được anh C đem về quyết toán với Công ty bằng kinh phí chi tiếp khách của Công ty thuộc chi phí hợp lý của doanh nghiệp không được kê khai, khấu trừ thuế GTGT.
- Công ty TNHH B5: Tháng 02/2023, Công đoàn Công ty T10 tổ chức giải bóng đá tại xã S, huyện B. Sau khi giao lưu bóng đá anh Nguyễn Mạnh L, sinh năm 1988, HKTT: TDP C, thị trấn H, huyện B là nhân viên kỹ thuật, đội trưởng đội bóng đi mua đồ về để chế biến, nấu nướng cho các thành viên của đội bóng tổ chức giao lưu ăn, uống. Tuy nhiên do mua hàng hóa của người bán không có hóa đơn. Để có hóa đơn mua hàng hợp thức chứng từ quyết toán với Công ty, anh L đã mua của P 01 hoá đơn ghi khống hàng hoá là lẩu thập cẩm, rau luộc, salat, hoa quả với số tiền ghi trên hóa đơn là 1.200.000đ, anh L phải trả cho P 20% tiền mua hóa đơn là 240.000đ. Anh L3 đã sử dụng hóa đơn này để quyết toán tiền từ quỹ công đoàn của Công ty, không hạch toán trong các chi phí hợp lý của Công ty và không kê khai khấu trừ thuế.
- Công ty TNHH MTV H5: Tháng 12/2023, Chị Lê Thị L1, sinh năm 1993, HKTT: Thôn K, xã V, huyện M, TP Hà Nội, hiện là nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH MTV H5 đã mua một số hàng hóa là đồ kim khí tại các điểm bán hàng trên địa bàn phường Đ, thành phố V nhưng do các cơ sở này không có hóa đơn xuất trả cho chị L1. Để có hóa đơn làm chứng từ quyết toán với Công ty, chị L1 đã mua của T5 03 số hoá đơn với tổng số tiền ghi trên hoá đơn là 48.580.000đ, chị L1 phải tra cho T5 10% tiền mua hoá đơn là 4.858.000đ, số tiền này chị L1 đã bỏ tiền ra trước đưa cho T5 bằng tiền mặt. Tuy nhiên sau khi mua về chị L1 chưa làm thủ tục quyết toán với Công ty thì bị Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, do đó Công ty TNHH H5 chưa quyết toán trả chị L1 số tiền trên và không làm thủ tục kê khai, hạch toán sổ kế toán.
- Chi nhánh Tổng công ty Đ1 - Khai thác đường sắt Đ1: Khoảng tháng 01/2023, anh Cao Duy H2, sinh năm 1979, HKTT: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, hiện là Trưởng ga H, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp khách ăn uống tại nhà quán lươn, ếch ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi ăn tại cơ sở dịch vụ ăn uống trên, cơ sở không có hóa đơn xuất trả cho anh H2. Do cần hóa đơn để quyết toán, anh H2 đã mua của T5 01 hoá đơn ghi khống nội dung đặt cơm với số tiền ghi trên hoá đơn là 2.750.000 đồng, anh H2 phải trả cho T5 10% tiền mua hoá đơn là 275.000 đồng, anh H2 sử dụng hóa đơn này để quyết toán với Công ty từ nguồn chi phí tiếp khách của công ty, không sử dụng để kê khai, khấu trừ thuế.
- Chi nhánh Công ty TNHH T11: Ngày 30/3/2023, Chi nhánh Công ty TNHH T11, địa chỉ: Số A phố Đ, phường C, quận B, TP Hà Nội tổ chức hội thảo trao đổi và phát triển khả năng kỹ thuật phòng chống dịch bệnh cho các chủ trang trại chăn nuôi tại địa bàn thị trấn B, huyện B, Công ty TNHH T11 giao cho anh Trần Quang T6- Nhân viên thị trường của Công ty tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện. Sau khi tổ chức hội thảo, anh Trần Quang T6 tổ chức mời cơm các đại biểu tại nhà hàng trên địa bàn thị trấn B nhưng nhà hàng không có hóa đơn xuất trả cho anh T6. Để có hóa đơn làm chứng từ thanh toán với Công ty, anh T6 đã mua của P 01 hoá đơn ghi khống nội dung đặt cơm với số tiền ghi trên hoá đơn là 8.400.000 đồng, anh T6 phải trả cho P 16% tiền mua hoá đơn là 1.344.000 đồng, khoản chi này anh T6 quyết toán với Công ty từ nguồn chi phí của doanh nghiệp, không kê khai, khấu trừ thuế.
- Công ty TNHH P2: Ngày 27/02/2023, Đỗ Văn T bán trái phép 01 hoá đơn ghi khống nội dung hàng hóa: Gà hấp, tôm sú, cá hồi, bò hầm... tổng tiền trên hóa đơn là 2.666.000 đồng, người mua hàng Công ty TNHH P2. T khai nhận hàng hóa, ghi trong hóa đơn là khống. Tuy nhiên, kết quả xác minh không xác định được người mua trực tiếp số hóa đơn nêu trên là ai. Ngày 28/12/2023, Công ty TNHH P2 có Công văn số 11/2023 về việc giải trình bổ sung về chênh lệch tờ khai thuế GTGT, trong đó Công ty đã không kê khai thuế và loại khỏi hệ thống chứng từ đầu vào của Công ty Q1 1/2023 đối với hóa đơn trên của hộ kinh doanh Khổng Thị T1.
- Công ty TNHH K2: Ngày 16/3/2023, Đỗ Văn T xuất bán trái phép 01 hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa: Lẩu thập cẩm, rau luộc, salat, hoa quả, xôi chim...tổng số tiền ghi trên hóa đơn 2.616.000 đồng, người mua hàng Công đoàn Công ty TNHH K2. T khai nhận hàng hóa ghi trong hóa đơn là khống. Kết quả điều tra xác định Công đoàn Công ty TNHH K2 đã sử dụng hóa đơn này để quyết toán khoản chi: Chia tay cán bộ công đoàn khóa III từ quỹ của công đoàn Công ty, người đề xuất chi là: Nguyễn Thị Y1 - Thủ quỹ của công đoàn Công ty, người duyệt chi là Trần Thị T7 - Chủ tịch công đoàn. Tuy nhiên kết quả làm việc chị Nguyễn Thị Y1 khẳng định bản thân không mua hóa đơn này mà do các cán bộ công đoàn khác tham gia buổi liên hoan chia tay đưa cho chị Y1 nhưng chị Y1 không nhớ là ai. Chị Y1 khẳng định hoạt động liên hoan chia tay có diễn ra ăn uống nhưng tại nhà hàng khác, không phải tại hộ kinh doanh Khổng Thị T1.
- Công ty TNHH T12: Ngày 29/11/2023, Đỗ Văn T xuất bán trái phép 01 hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa: Khánh tiết; băng zôn; tài liệu, đặt cơm, hoa lẵng, giấy in A4; bút bi...tổng tiền trên hóa đơn là 10.000.000đ. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn T xác định nội dung trên hóa đơn trên một phần ghi khống hàng hóa: Đặt cơm, các hàng hóa khác cơ sở của T có kinh doanh thực tế. Tuy nhiên kết quả xác minh người mua hàng trong hóa đơn là Công ty TNHH T12, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện M, TP ., xác định: Thời điểm hiện tại Công ty TNHH T12 đã đăng ký thủ tục công bố giải thể, chưa đăng ký thủ tục tạm ngừng, giải thể hay sát nhập, chia tách doanh nghiệp. Ngày 12/3/2019, Chi cục thuế huyện M đã ban hành Thông báo số 1948/TB- CCT về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nên không có hồ sơ kê khai, nộp thuế, báo cáo tài chính. Tra cứu trên hệ thống từ ngày 12/3/2019 doanh nghiệp bị đóng mã số thuế nên Chi cục thuế khu vực S không nhận được tờ khai, báo cáo về việc sử dụng số hóa đơn nêu trên.
- Công ty Cổ phần P3: Ngày 12/9/2023, ông Trần Phi L2- Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần P3 mua của Đỗ Văn T 01 hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa: Đặt cơm, tổng tiền ghi trên hóa đơn 2.100.000 đồng, ông L2 đã trả cho T 10% tiền mua hóa đơn là 210.000 đồng. Sau khi có hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa này ông L2 sử dụng để quyết toán với Công ty khoản chi đưa đội bóng của công ty đi đá giải cúp bóng đá Standard Chartered 2023 tại Hà Nội.
Năm 2023, Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P kê khai, nộp thuế cho 761 hóa đơn đã xuất ra năm 2023, trong đó có 54 số hóa đơn Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P bán trái phép nêu trên. Ngày 03/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V có Công văn số 1290/VPCQCSĐT (Đ3) gửi Chi cục thuế khu vực T8, đề nghị xác định tiền thuế mà hộ kinh doanh Khổng Thị T1 đã nộp cho 54 số hóa đơn ghi khống nội dung nêu trên. Ngày 24/5/2024, Chi cục thuế khu vực T8 có văn bản số 438/CCTKV- NVT trả lời, xác định tiền thuế hộ kinh doanh Khổng Thị T1 đã nộp cho 54 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa nêu trên là 25.392.190 đồng.
* Kết quả giám định tài chính: Tại kết luận giám định tài chính số 01-2024, ngày 31/7/2024 của Sở tài chính tỉnh V, kết luận:
- Hành vi bán 54 số hóa đơn cho các cá nhân, đơn vị nêu trên của Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P là hành vi bán trái phép hóa đơn, vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực về kế toán.
- Đối với các cá nhân, tổ chức nêu trên mua, sử dụng hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa của hộ kinh doanh Khổng Thị T1 làm chứng từ thanh quyết toán với ngân sách Nhà nước có gây thiệt hại ngân sách nhà nước. Tổng số tiền thiệt hại là 75.518.470 đồng. Cụ thể thiệt hại ngân sách nhà nước xảy ra tại các đơn vị với số tiền như sau: UBND xã T số tiền 4.513.218 đồng; Trường THCS B3 số tiền 3.446.156 đồng; Trường THCS G số tiền 678.640 đồng; UBND xã S số tiền 1.240.500 đồng; Trường THPT B4 số tiền 5.635.972 đồng; U số tiền 2.400.000 đồng; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện B số tiền 57.603.984 đồng.
- Số tiền Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P thu lời được từ hành vi bán 54 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa cho các cá nhân thuộc các cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp trên là 86.081.547 đồng (Tổng số tiền bán hóa đơn 111.473.737 đồng - số tiền thuế đã nộp NSNN 25.392.190 đồng).
* Xử lý đồ vật, tài sản tạm giữ:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Lê Thị Bích P 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, số Seri: G6TZ80TZN700, số IMEI: 353947100505010 sử dụng để truy cập vào phần mềm xuất hóa đơn điện tử và liên lạc, bán các hóa đơn ghi khống nội dung cho các cá nhân, đơn vị. Xác định đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Ngày 28/8/2024, Đỗ Văn T đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 86.081.547 đồng thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép 54 số hóa đơn ghi khống nội dung nêu trên để khắc phục hậu quả.
Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKS-P1 ngày 30/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Đặng Quang T3 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự; truy tố Đỗ Văn T và Thị Bích P về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và Thị Bích P phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Đặng Quang T3 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Đỗ Văn T từ từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Lê Thị Bích P từ 230.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Đặng Quang T3 từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung công số tiền số tiền thu lời bất chính các bị cáo đã giao nộp để khắc phục hậu quả.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế nên đã vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử một lần nữa có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Trong năm 2023, Đỗ Văn T cùng Lê Thị Bích P bán trái phép hóa đơn của hộ kinh doanh K3, địa chỉ: TDP Đ, TT Đ, T, Vĩnh Phúc cho 19 cá nhân, tổ chức với tổng số 54 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 807.366.390 đồng. Số tiền Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P thu lợi bất chính từ hành vi bán 54 số hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa cho các cá nhân thuộc các cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp trên là 86.081.547 đồng.
Đặng Quang T3 - Chuyên viên, kiêm kế toán Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B mua trái phép 14 hóa đơn của Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P (14 hóa đơn của hộ kinh doanh K3) với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 359.979.900 đồng, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước theo kết luận giám định là 57.603.984 đồng.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi mua trái phép 14 hóa đơn của Đặng Quang T3 đã phạm vào tội Mua bán trái phép hóa đơn quy định tại khoản 1 điều 203 BLHS; hành vi bán trái phép 54 hóa đơn của Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P đã phạm vào tội Mua bán trái phép hóa đơn quy định tại điểm d khoản 2 điều 203 BLHS.
Tại Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép hóa đơn...đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số...thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
d. Hóa đơn...đã ghi nội dung từ 30 số trở lên”.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách của Nhà nước về quản lý hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực về thuế, gây mất trật tự trị an xã hội; trong vụ án này bị cáo T là người chịu vai trò chính, P là đồng phạm với vai trò tích cực nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Trước khi phạm tội bị cáo T và P đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, ông nội bị cáo T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, ông nội của bị cáo P được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Đặng Quang T3 trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố bị cáo là thương binh tham gia kháng chiến chống Mỹ loại 4 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
-Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Đối với người có liên quan trong vụ án:
Đối với Khổng Thị Phương T4 - Chuyên viên kiêm kế toán Phòng Nội vụ huyện B; Kiều Huy T5 - Cán bộ phòng H; Dương Thị Phương D1 - Cán bộ văn phòng Đảng ủy xã T; Dương Văn B - Chỉ huy trưởng quân sự xã S; Nguyễn Văn H1- Công chức văn phòng thống kê UBND xã S; Trần Ngọc Y - Công chức văn phòng thống kê UBND thị trấn H; Tạ Văn K - Kế toán Trường THCS B3; Tạ Văn D2 - Kế toán Trường THCS G công tác tại các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước. Những người này có hành vi mua bán trái phép hóa đơn nhưng dưới 10 số hóa đơn, các hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa được sử dụng cho các khoản chi có thật. Hành vi mua hóa đơn ghi khống nội dung đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước nhưng số tiền thiệt hại dưới 100 triệu đồng và việc mua trái phép các hóa đơn này không có động cơ vụ lợi, do vậy không cấu thành tội phạm Mua bán trái phép hóa đơn và tội phạm khác. Tuy nhiên hành vi này vi phạm quy định tại Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ- CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý hành chính là phù hợp.
Đối với các cá nhân: Bà Trần Thị Thu H3 - Cán bộ văn phòng Trường THPT T9; anh Vũ Viết N2 - Nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH V; anh Tạ Hùng C - Công nhân Công ty TNHH O; anh Nguyễn Mạnh L - Nhân viên kỹ thuật Công ty TNHH B5; chị Lê Thị L1 - Nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH MTV H5; anh Cao Duy H2 - Trưởng ga H thuộc Chi nhánh Tổng công ty Đ1; anh Trần Quang T6 - Nhân viên Chi nhánh Công ty TNHH T11; ông Trần Phi L2 - Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần P3 có hành vi Mua bán trái phép hóa đơn nhưng dưới 10 số hóa đơn nhưng không quyết toán từ nguồn ngân sách nhà nước, không gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước, không có động cơ vụ lợi cá nhân nên không cấu thành tội Mua bán trái phép hóa đơn và tội phạm khác. Tuy nhiên hành vi này đã vi phạm quy định tại Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ- CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý hành chính là phù hợp.
Đối với ông Lưu Văn B1 - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B là người ký vào các chứng từ thanh, quyết toán của Phòng Nông nghiệp có sử dụng hóa đơn ghi khống nội dung hàng hóa của hộ kinh doanh Khổng Thị T1, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 57.603.984 đồng, khi ký với vai trò chủ tài khoản ông B1 không biết các hóa đơn của Khổng Thị T1 là do Đặng Quang T3 mua khống, ông B1 không chỉ đạo, không được T3 bàn bạc, trao đổi gì trong việc mua khống hóa đơn, số tiền gây thiệt hại cho ngân sách dưới 100 triệu đồng, do đó hành vi của ông B1 không đồng phạm với Đặng Quang T3 về tội Mua bán trái phép hóa đơn, không phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Cơ quan điều tra đã đề nghị UBND huyện B2 xem xét xử lý trách nhiệm theo quy định.
Đối với ông Phùng Ngọc L4 - Trưởng phòng Nội vụ huyện B là người trực tiếp ký vào các chứng từ thanh, quyết toán các khoản chi của Phòng nội vụ có sử dụng hóa đơn ghi khống nội dung của hộ kinh doanh Khổng Thị T1, để bà T4 làm thủ tục thanh toán các khoản chi của Phòng Nội vụ qua Kho bạc nhà nước B6. Khi ký các chứng từ này ông L4 không chỉ đạo, không được bà T4 bàn bạc, trao đổi gì về việc mua các hóa đơn ghi khống nội dung của hộ kinh doanh Khổng Thị T1, sau khi Cơ quan điều tra thu thập tài liệu, xác minh, ông L4 mới biết các hóa đơn này là hóa đơn ghi khống nội dung do bà T4 mua, ông L4 đã chỉ đạo bà T4 nộp lại ngân sách số tiền đã thanh toán cho các khoản chi và mua hóa đơn này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định các khoản chi của Phòng Nội vụ có sử dụng hóa đơn của hộ kinh doanh Khổng Thị T1 hợp thức chứng từ cho các khoản chi thật, không có việc quyết toán khống, do vậy Cơ quan điều tra đã đề nghị UBND huyện B2 xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông Phùng Ngọc L4 theo quy định.
Đối với Khổng Thị T1 - Chủ hộ kinh doanh, là mẹ đẻ của Đỗ Văn T, mặc dù bà T1 đứng tên đăng ký hộ kinh doanh nhưng bà T1 chỉ buôn bán hàng tạp hóa, nhỏ lẻ tại địa bàn thị trấn Đ, bản thân bà T1 không hiểu biết về đăng ký, sử dụng phần mềm xuất hóa đơn điện tử nên đã giao cho T quản lý, sử dụng. Khi T sử dụng, xuất bán 54 số hóa đơn ghi khống nội dung cho các cá nhân, tổ chức nêu trên bà T1 không biết, không được T bàn bạc trao đổi và không được hưởng lợi gì, do đó bà T1 không đồng phạm với Đỗ Văn T và Lê Thị Bích P. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Khổng Thị T1 là phù hợp.
[7] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy các bị cáo T là người giữ vai trò chính vụ án nhưng bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả và có nơi cư trú ổn định; bị cáo P và bị cáo T trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo T; áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo P và T3 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, số hóa đơn do bị cáo T3 mua trái phép là 14 hóa đơn, do vậy cần áp dụng mức hình phạt tiền cao hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để phù hợp với mức hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với số hóa đơn mua bán trái phép từ 10 đến 30 hóa đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Lê Thị Bích P 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, số Seri: G6TZ80TZN700, số IMEI: 353947100505010 sử dụng để truy cập vào phần mềm xuất hóa đơn điện tử và liên lạc, bán các hóa đơn ghi khống nội dung cho các cá nhân, đơn vị. Xác định đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Ngày 28/8/2024, Đỗ Văn T đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 86.081.547 đồng thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép 54 số hóa đơn ghi khống nội dung nêu trên để khắc phục hậu quả, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm
Các bị cáo Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P và Đặng Quang T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P và Đặng Quang T3 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Đỗ Văn T 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn T cho UBND thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Lê Thị Bích P 250.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Đặng Quang T3 100.000.000 đồng.
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu sung công số tiền 86.081.547 đồng thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép do bị cáo Đỗ Văn T giao nộp.
Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, số Seri: G6TZ80TZN700, số IMEI: 353947100505010 của Lê Thị Bích P.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 31/12/2024 giữa Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Đỗ Văn T, Lê Thị Bích P và Đặng Quang T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Anh Cường |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép hóa đơn)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép hóa đơn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T là cán bộ phòng TNMT huyện mua trái phép hóa đơn chứng từ
