|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 28 -11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly
Ông Nguyễn Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ Thị H; Sinh ngày 01/01/1949 tại huyện M, tỉnh Yên Bái;
Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vừ A D (không xác định được năm sinh (đã chết) và bà Hờ Thị X, (không xác định được năm sinh (đã chết); Bị cáo có chồng là Giàng A P, sinh năm 1950 (đã chết) và có 08 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/7/2024, đến ngày 19/7/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
* Điểm cầu thành phần:
- Nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu: Bị cáo: Vừ Thị H (Có mặt).
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Người bào chữa cho bị cáo Vừ Thị H: Bà Nông Thị Minh H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 15/7/2024, Vừ Thị H đi bộ từ nhà tại bản H, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã P, huyện T tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Vừ Thị H gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine với số tiền 150.000 đồng. Mua được H2, Vừ Thị H mang về nhà tại bản Hua Than, xã M, huyện T, chia gói Heroine mua được thành nhiều phần nhỏ rồi cất giấu vào trong chiếc khăn vải đội trên đầu, mục đích để sử dụng dần. Đến hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, khi Vừ Thị H đang đi bộ trong bản Hua Than, xã M, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong chiếc khăn vải (đa màu sắc) của Vừ Thị H đang đội trên đầu 04 cục H3. Cơ quan điều tra đã lấy 01 mảnh ni lon màu xanh để niêm phong 04 cục Heroine lại theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 78 ngày 16/7/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 947 ngày 17/7/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Vừ Thị H có tổng khối lượng là 0,18 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,18 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết (không hoàn lại mẫu vật). Còn lại: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 khăn vải (đa màu sắc) hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Vừ Thị H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vừ Thị H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 khăn vải (đa màu sắc).
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Vừ Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo trên 70 tuổi và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo có bố đẻ được UBND tỉnh Y tặng Bằng khen kháng chiến. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vừ Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vừ Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định Khoảng 16 giờ ngày 15/7/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vừ Thị H đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người phụ nữ không rõ lai lịch với số tiền 150.000 đồng. Sau đó, Vừ Thị H chia số Heroine mua được thành nhiều phần nhỏ, mục đích để sử dụng dần. Đến hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại bản Hua Than, xã M, huyện T, Vừ Thị H bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ 04 cục H3 có tổng khối lượng 0,18 gam.
Bị cáo Vừ Thị H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Vừ Thị H sinh ra tại huyện M, tỉnh Yên Bái, bị cáo không được đi học, không biết chữ, là người nghiện chất ma tuý, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã 75 tuổi, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; thời điểm phạm tội bị cáo trên 70 tuổi; đồng thời là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc; bị cáo có bố đẻ được UBND tỉnh Y tặng Bằng khen kháng chiến nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp nông dân, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,18 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; đối với 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 khăn vải (đa màu sắc) là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vừ Thị H là người già, gia đình thuộc diện hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Vừ Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo đã 75 tuổi, bản thân chưa có tiền án, tiền sự và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng nên cần cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên và người bào chữa về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[10] Các vấn liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc H2, bị cáo Vừ Thị H khai mua từ một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ Thị H 01 (Một) năm tù. Khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo 03 (ba) ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 11 (Mười một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 khăn vải (đa màu sắc).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Vừ Thị H 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Vừ Thị H 01 (Một) năm tù. Khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo 03 (ba) ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 11 (Mười một) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án
