Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HSST

Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trãi;

Bà Ngô Thị Út Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân dân quận Ô Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày10 tháng 10 năm 1989, tại C - Hậu Giang.

Nơi cư trú: A, Khu V, phường T, quận C, TP .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1966 (sống); có chồng là Lê Văn Bảo A, sinh năm 1987 và 03 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014); tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/9/2024, bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, TP . xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HSST và ngày 30/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam C1, tỉnh Cà Mau.

(Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, TP ., (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bà Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, TP ., (vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn Bảo A, sinh năm 1987.

Địa chỉ: A, Khu V, phường T, quận C, TP ., (có mặt tại phiên tòa).

Ông Phan Văn H1, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Duyên Y, Hồ N, P, Hà Nội, (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Thị T cùng chồng là ông Lê Văn Bảo A đi làm thuê tại công ty T3 thuộc khu công nghiệp T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, đến giờ nghỉ trưa T và Bảo A ghé quán cà phê gần cầu C nằm nghỉ, do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, đến khoảng 12 giờ cùng ngày T nói với ông Bảo A bị nhức đầu và đi mua thuốc uống, T điều khiển xe mô tô biển số 33L4-4263 trên đường T thuộc khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến nhà thuốc Nguyễn K1 của chị Nguyễn Thị Thùy N, T phát hiện đang đóng cửa, T quay lại dựng xe tại quán cà phê rồi đi bộ qua nhà thuốc tây Nguyễn K1, T thấy không ai trông coi, cửa khép hờ nên T đẩy cửa đi vào bên trong mở ngăn tủ lấy trộm số tiền 3.100.000 đồng rồi bỏ vào túi áo khoác của T rồi đem số tiền về nhà cất giấu.

Đến ngày 28 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Thị T tiếp tục đến Shop H của chị Nguyễn Hoàng Kim T1 khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ lấy trộm số tiền 710.000 đồng, chị K phát hiện mất tiền và nghi ngờ T lấy trộm nên trình báo công an phường P và mời T về làm việc, T thừa nhận lấy trộm tài sản. (BL: 33-49)

Còn đối với ông Lê Văn Bảo A không biết Nguyễn Thị T đi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Thùy N và chị Nguyễn Hoàng K nên không đủ cơ sở xử lý đối với ông Lê Văn Bảo A. (BL: 27-30).

Vật chứng thu giữ: 01 cái bóp da màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác bằng vải, dài tay, màu trắng - đen - hồng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263 và tiền Việt Nam 4.838.000 đồng (BL: 111- 112).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thùy N và bà Nguyễn Hoàng K yêu cầu nhận lại số tiền bị mất trộm. (BL: 19- 20, 25-26).

Cáo trạng số 14/CT-VKSOM ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, TP . Truy tố bị cáo Nguyễn Thị T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn Bảo A xin được nhận lại xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, TP .: Phân tích lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng năng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, TP . và và hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chỉ yêu cầu được nhận lại tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu gì thêm. Nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thùy N số tiền bị cáo đã trộm là 3.100.000 đồng;

Trả lại cho bị hại Nguyễn Hoàng K số tiền bị cáo đã trộm là 710.000 đồng;

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.028.000 đồng; 01 cái bóp da màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác bằng vải, dài tay, màu trắng - đen - hồng đã qua sử dụng; Trả lại cho ông Lê Văn Bảo A 01 chiếc xe xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Do cần tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ ra sức lao động của mình, vào ngày 26 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị T có hành vi lén lút lấy trộm tài sản gồm của bị hại Nguyễn Thị Thùy N với số tiền 3.100.000 đồng, đến ngày 28/6/2024, bị cáo tiếp tục có hành vi lén lúc trộm tài sản của bị hại Nguyễn Hoàng K với số tiền 710.000 đồng. Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đối với bị cáo là có cơ sở.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Với hành vi và mức độ hậu quả do bị cáo gây ra cần phải có một mức án tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngày 16/9/2024, bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, TP . xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HSST và ngày 30/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST. Do đó, cần phải tổng hợp hình phạt của 02 bản án nêu trên cùng với mức hình phạt đối với hành vi phạm tội lần này để buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của 03 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chỉ yêu cầu nhận lại tài sản đã bị trộm, không có yêu cầu gì thêm. Nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 4.838.000 đồng, trong đó có số tiền 3.100.000 đồng bị cáo trộm của bà N, số tiền 710.000 đồng bị cáo trộm của bà K và số tiền 1.028.000 đồng còn lại là tiền cá nhân của bị cáo. Do đó, cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Thùy N số tiền 3.100.000 đồng; trả lại cho bà Nguyễn Hoàng K số tiền 710.000 đồng

Số tiền 1.028.000 đồng; 01 cái bóp da màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác bằng vải, dài tay, màu trắng - đen - hồng đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc 01 xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263. Chiếc xe này, do ông Phan Văn H1 đứng tên quyền sở hữu (chưa sang tên đổi chủ), ông H1 đã bán không có yêu cầu gì khác. Chiếc xe được ông Lê Văn Bảo A mua lại, nhưng không có giấy tờ. Bị cáo dùng xe này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ông Bảo A hoàn toàn không biết. Do đó, giao trả chiếc xe xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263 cho ông Bảo A tiếp tục quản lý sử dụng. Nếu sau này, có phát sinh tranh chấp giữa chủ sở hữu tài sản và ông Bảo A thì sẽ giải quyết thành vụ án khác.

(Vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/01/2025).

[6] Về án phí Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, TP . và và hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thùy N số tiền 3.100.000 đồng;

Trả lại cho bị hại Nguyễn Hoàng K số tiền 710.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.028.000 đồng; 01 cái bóp da màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác bằng vải, dài tay, màu trắng-đen-hồng đã qua sử dụng.

Trả lại cho ông Lê Văn Bảo A 01 chiếc xe xe mô tô loại Wave nhãn hiệu Prety, màu xanh, số khung: LVKPCR012K026601, số máy: VLKZS150FMG2000026601, biển số 33L4-4263.

(Vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/01/2025).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị có phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiện tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án ND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ô Môn;
  • - Công an quận Ô Môn;
  • - Chi cục THADS quận Ô Môn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quốc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger