Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH BẮC KẠN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 15 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bảo Thanh Toàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Tiến Cườngông Lưu Khánh Toàn;

Thư ký phiên toà: Ông Ma Văn Chung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST - HS, ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

DƯƠNG VĂN L

- sinh ngày 30/12/1965 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/10; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn T và con bà Hoàng Thị B (đều đã chết); Bị cáo không có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/01/1986 Dương Văn L bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 12/HSST; Ngày 23/11/1994 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 18 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án số 41/HSST; Ngày 18/5/1995 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” tại Bản án số 19/HSST; Ngày 25/9/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 47/HSST; Ngày 07/3/2017 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 17/2017/HS-ST; Ngày 12/8/2020 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 21/2020/HS-ST. Các bản án trên đều đã xoá án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025 thì bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, tại thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Tổ tuần tra kiểm soát giao thông công an huyện C đang làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Dương Văn L có hành vi cất giấu 01 túi nilon trong suốt (dạng túi díp), bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma tuý; được Dương Văn L cầm ở lòng bàn tay trái. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản giao nhận người bị bắt cho Công an huyện C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; niêm phong toàn bộ vật chứng nêu trên vào phong bì ký hiệu “L”, thu giữ theo quy định.

Ngày 28/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét chỗ ở và nơi phụ cận của Dương Văn L tại thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả: Không phát hiện và tạm giữ đồ vật gì.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình về thời gian, địa điểm, số tiền dùng để mua ma tuý, số lượng ma tuý đã mua và tàng trữ. Cụ thể Dương Văn L khai nhận bản thân là người sử dụng ma tuý, loại heroine; chất màu trắng chứa trong 01 túi nilon trong suốt (dạng túi díp) bị Cơ quan Công an huyện C thu giữ nêu trên là ma tuý, loại heroine của Dương Văn L. Số ma tuý trên L có được là do khoảng 19 giờ 30 ngày 27/12/2024, L mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 20M1-5908 của anh Hà Văn S, trú tại: thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đi đến nhà một người đàn ông tên H tại xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mua được 01 gói ma tuý, loại Heroine giá 300.000đ. Sau khi mua được ma tuý L điều khiển xe về nhà, trên đường về đến khu vực thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị lực lượng cảnh sát giao thông ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra và phát hiện bắt quả tang L tàng trữ ma tuý như đã nêu ở trên. L còn khai, tiền mua ma tuý là của bản thân, không ai góp chung tiền hay nhờ mua ma tuý, mục đích mua ma tuý về chỉ để sử dụng không nhằm mục đích gì khác.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 27 tháng 12 năm 2024 thể hiện Dương Văn L dương tính với chất ma túy.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong thử phát hiện nhanh và cân xác định khối lượng chất ma túy hồi 22 giờ 20 ngày 27/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu “L” khi tiến hành thử có kết quả: Chuyển sang màu tím đỏ trùng khớp với bảng màu chất ma tuý loại Heroine, có khối lượng 0,358g (không phẩy ba năm tám gam). Sau khi cân, toàn bộ khối lượng 0,358g trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “L1” gửi giám định; Phong bì, bao gói ban đầu được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu “L2”.

Tại Kết luận giám định số: 43/KL - KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký

2

hiệu L1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,358g (không phẩy ba năm tám gam). Sau giám định mẫu chất trong phong bì ký hiệu L1 còn lại: 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T31 hoàn trả lại cho cơ quan trưng cầu.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT - VKSCM, ngày 07 tháng 3 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, điều 249/BLHS.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Văn L. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Dương Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Dương Văn L.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu L2 dán kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có 01 chữ Luân, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ “Âu Thị Hồng N”, “Dịp Thanh H1”, “Lô Đức H2”, “Nguyễn Tiến H3”, “Dương Văn L”, “Nguyễn Trường G” và 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Mặt trước phong bì có dòng chữ “Giấy gói cũ vụ Dương Văn L”. Bên trong chứa toàn bộ giấy gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu T31 mặt sau dán kín, tại mép dán có 04 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, mặt trước có dòng chữ “Mẫu hoàn trả vụ Dương Văn L (1965) tàng trữ trái phép chất ma túy”, bên trong chứa 0,323g ma túy Heroine cùng phong bì, bao gói niêm phong.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo Dương Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như viện kiểm sát đã truy tố. Tại phiên toà bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, không tranh luận; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

H4 20 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, tại thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Dương Văn L đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp trên người 01 (Một) gói nhỏ ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,358g (không phẩy ba năm tám gam). Mục đích Dương Văn L tàng trữ trái phép chất ma tuý là phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma tuý của bản thân; ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Dương Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 28/01/1986 Dương Văn L bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 12/HSST; Ngày 23/11/1994 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 18 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án số 41/HSST; Ngày 18/5/1995 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xét xử 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” tại Bản án số 19/HSST; Ngày 25/9/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 47/HSST; Ngày 07/3/2017 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 17/2017/HS-ST; Ngày 12/8/2020 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 21/2020/HS-ST. Các bản án trên đều đã xoá án tích.

Ngoài ra, ngày 25/02/2025 bị công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 8.000.000đ về hành vi điều khiển xe mô tô trên đường mà trong cơ thể có chất ma tuý và không có giấy phép lái xe.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51/BLHS.

[4] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế

4

độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy bị cáo Dương Văn L tàng trữ ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích mua bán; Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản, là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong ký hiệu L2 dán kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có 01 chữ Luân, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ “Âu Thị Hồng N”, “Dịp Thanh H1”, “Lô Đức H2”, “Nguyễn Tiến H3”, “Dương Văn L”, “Nguyễn Trường G” và 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Mặt trước phong bì có dòng chữ “Giấy gói cũ vụ Dương Văn L”. Bên trong chứa toàn bộ giấy gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T31 mặt sau dán kín, tại mép dán có 04 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, mặt trước có dòng chữ “Mẫu hoàn trả vụ Dương Văn L (1965) tàng trữ trái phép chất ma túy”,bên trong chứa 0,323g ma túy Heroine cùng phong bì, bao gói niêm phong. Tất cả không có giá trị, tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên H mà Dương Văn L khai là người đã bán ma tuý cho L. Quá trình điều tra xác định ngoài lời khai của L thì không có tài liệu nào khác chứng minh H bán ma tuý cho L. Do đó, chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý Hưởng trong vụ án này, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 20M1-5908 mà Dương Văn L mượn của anh Hà Văn S để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định anh S không biết L mượn xe để đi mua ma tuý. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh S là phù hợp với quy định. Ngoài ra ngày 27/12/2024 L điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe và trong cơ thể có chất ma tuý là vi phạm quy định trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về quan điểm truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát: Là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí, được miễn án phí theo quy định tại khoản 2, Điều 136/BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo: Dương Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

[2] Căn cứ vào điểm c, khoản 1, điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51/BLHS.

Xử phạt: Dương Văn L: 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/12/2024.

5

[3] Về vật chứng: Áp dụng điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu L2 dán kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có 01 chữ Luân, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ “Âu Thị Hồng N”, “Dịp Thanh H1”, “Lô Đức H2”, “Nguyễn Tiến H3”, “Dương Văn L”, “Nguyễn Trường G” và 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Mặt trước phong bì có dòng chữ “Giấy gói cũ vụ Dương Văn L”. Bên trong chứa toàn bộ giấy gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu T31 mặt sau dán kín, tại mép dán có 04 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, mặt trước có dòng chữ “Mẫu hoàn trả vụ Dương Văn L (1965) tàng trữ trái phép chất ma túy”,bên trong chứa 0,323g ma túy Heroine cùng phong bì, bao gói niêm phong.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn ngày 24/3/2025).

[4] Án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136/BLTTHS và Điều 12, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn L.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - VKSND huyện Chợ Mới (3);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Bắc Kạn (2);
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);
  • - Thi hành án hình sự (1);
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Bảo Thanh Toàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DVL
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger