Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thế P, sinh ngày 23 tháng 3 năm 1990 tại xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...], cấp ngày 24 tháng 7 năm 2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thế H (đã chết) và bà Đỗ Thị T; Có vợ là Đỗ Thị H1 và 01 con.

Tiền án; Tiền sự: Không;

Tạm giữ, tạm giam: Không, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

* Bị hại:

  • + Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963 (đã chết)
  • + Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1958

Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Nguyễn Thị V: Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1963

Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

* Người làm chứng:

  • + Anh Lê Đình H4, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Bà Lê Thị Q, sinh năm 1962

Địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa có mặt người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị V; vắng bị hại Nguyễn Văn H2 và những người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2024, ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1958 trú tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe máy điện (không gắn biển số) chở theo vợ là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963 (cùng địa chỉ) ngồi sau, trên phần đường bên phải Quốc lộ D hướng xã T đi thị trấn T đoạn qua khu F, thị trấn T để đi về nhà ở khu B thị trấn T. Khi đi đến ngã tư giao nhau với Quốc lộ D và đường liên xã thì đèn tín hiệu giao thông báo đỏ nên ông H2 cho xe dừng lại ở khoảng giữa phần đường di chuyển chờ đèn đỏ. Cùng lúc này, Lê Thế P là lái xe thuê cho anh Lê Đình H4, sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã N, huyện T, theo hợp đồng lao động ngày 20/01/2024, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-264.36 đi sau, cùng chiều với xe ông H4 để vào ngã tư và chuyển hướng rẽ phải. P quan sát thấy đèn giao thông ở ngã tư báo đỏ và đèn mũi tên xanh được phép rẽ phải nên điều khiển xe rẽ phải mà không bật đèn xi nhan báo hướng rẽ. Do ông H4 cùng một vài phương tiện khác đang dừng đèn đỏ ở phần đường di chuyển nên khi cách ngã tư khoảng 20m, P điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái khoảng 1m để vào ngã tư và chuyển hướng rẽ phải. Thời điểm P điều khiển xe ô tô gần đến ngã tư thì đèn giao thông chuyển xanh. Ông H4 điều khiển xe máy điện đi thẳng vào ngã tư. Do không chú ý quan sát khi chuyển hướng rẽ phải tại ngã tư nên P điều khiển xe đâm va từ phía sau vào xe khiến ông H4, bà V và xe máy điện đổ ngã bên phải, nằm trong gầm xe ô tô. P phát hiện xảy ra tai nạn nên dừng xe, xuống kiểm tra cùng người dân hỗ trợ đưa bà V, ông H4 đi cấp cứu. Tuy nhiên do thương tích nặng bà V đã tử vong trên đường đi cấp cứu, ông H4 bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Cơ quan điều tra Công an huyện T tra cứu giấy phép lái xe của Lê Thế P, kết quả xác định: P có Giấy phép lái xe ô tô hạng C, được cấp ngày 28/04/2016 và có giá trị đến ngày 04/05/2026. Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở, xét nghiệm các chất gây nghiện trong mẫu nước tiểu đối với Lê Thế P, Nguyễn Văn H2. Kết quả xét nghiệm đều là 0,00mg/l khí thở âm tính với chất gây nghiện. Giám định nồng độ cồn, giám định ma túy trong máu của bà Nguyễn Thị V. Kết quả: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy, không

có nồng độ cồn trong máu của bà Nguyễn Thị V.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư Quốc lộ D giao nhau với Quốc lộ D và đường liên xã thuộc khu F, thị trấn T, huyện T, có mặt đường rải nhựa bằng phẳng, không có vật cản, che khuất tầm nhìn. Phía B là hướng Quốc lộ D đi về phía Ủy ban nhân dân huyện T có mặt đường rải nhựa bằng phẳng rộng 9,6m, không có lề đường, tiếp giáp vỉa hè. Phía Nam là hướng Quốc lộ D đi xã T có mặt đường rải nhựa bằng phẳng rộng 9,6m, không có lề đường, tiếp giáp vỉa hè. Phía Đông là hướng Quốc lộ D đi cầu Hạnh Phúc có mặt đường rải nhựa bằng phẳng rộng 10m, không có lề đường, tiếp giáp vỉa hè. Phía Tây là hướng đường liên xã đi xã X có mặt đường rải nhựa bằng phẳng, rộng 5,2m không có lề đường. Tại bốn phía của ngã tư, mỗi phía có một cột đèn tín hiệu giao thông, tình trạng hoạt động bình thường. Chọn cột mốc ký hiệu H4/34 tại vỉa hè lề Quốc lộ D ngay trước siêu thị N làm điểm cố định, ký hiệu (A); Lấy mép đường bên phải Quốc lộ D hướng xã T đi Ủy ban nhân dân huyện T làm mép đường chuẩn, ký hiệu (B).

Quá trình khám nghiệm hiện trường, phát hiện:

Vết (1): Vết cày trượt liên tục trên mặt đường dài 2,7m, vị trí rộng nhất 0,75m, sâu nhất 0,01m theo hướng T đi Đ. Đầu vết cách (A) là 28,2m về hướng N, cách (B) là 0,15m về hướng Tây. Đuôi vết cách (B) 1,8m về hướng Đông. Vị trí đuôi vết là điểm tỳ bên phải xe máy điện. Ký hiệu vết (1).

Vết (2): Xe ô tô tải biển kiểm soát 36C-264.36 có đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng Tây Nam gồm 4 hàng bánh lốp. Trục sau hàng lốp cuối cùng cách đầu vết (1) là 1,05m về hướng Đông, cách (B) 0,7m về hướng Đông (hàng lốp bên phải); trục sau hàng lốp thứ ba bên phải cách (B) 1,7m, trục sau hàng lốp thứ hai bên phải cách (B) 3,95m; trục sau hàng lốp đầu tiên bên phải cách (B) 5,2m về hướng Đông. Ký hiệu vết (2).

Vết (3): Xe máy điện không gắn biển số nằm đổ ngã bên phải xe xuống mặt đường tại vị trí ngay phía trước hàng lốp thứ ba bên trái xe ô tô BKS: 36C-264.36, đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Trục trước xe ở ngay đuôi vết (1) cách (B) 1,8m, trục sau xe cách (B) 3,1m. Ký hiệu vết (3).

Vết (4): Vết màu nâu đỏ dạng máu rải rác trên diện (1m x 0,9m). T1 vết cách đầu vết (1) là 4,5m, cách (B) 3m. Ký hiệu vết (4).

Xung quanh vị trí vết (3), (4) trên mặt đường có các mảnh nhựa vỡ của xe máy điện và các vật dụng rơi rải rác trên mặt đường.

Tiến hành nối tim Quốc lộ D giao nhau với đường thẳng, nối tim Quốc lộ D và đường nhựa liên xã xác định tâm ngã tư. Vị trí đầu vết (1) cách tâm ngã tư 7,2m thuộc phần đường giao nhau giữa phần đường bên phải hướng Quốc lộ D từ xã T đi Ủy ban nhân dân huyện T và phần đường bên phải hướng đường từ đường liên xã Đ.

Xác minh biển báo giao thông đường bộ: Tại mỗi phía của ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D với Quốc lộ D và đường liên xã có một cột đèn tín hiệu giao

thông kèm theo đèn mũi tên xanh được phép rẽ phải. Tại vị trí vỉa hè bên phải đường Quộc lộ 47C hướng xã T đi ngã tư, cách ngã tư 40m có một biển báo giao thông: Giao nhau có tín hiệu đèn (W.209). Tại vị trí vỉa hè bên phải đường Quốc lộ 47B hướng ngã tư đi xã T, cách ngã tư 20m có một biển báo cấm dừng đỗ xe và cấm họp chợ từ vị trí biển báo kéo dài 70m theo hướng đi cầu Hạnh Phúc. Tại vị trí vỉa hè bên phải đường Quốc lộ 47C hướng ngã tư đi Ủy ban nhân dân huyện T, cách ngã tư 50m có một biển báo đường bị hẹp (biển 203a).

Kết quả khám nghiệm phương tiện và giám định dấu vết cơ học: Tại Bản kết luận giám định số: 4180/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước dưới bên phải ba- đờ-xốc trước cách thành xe bên phải 65cm xe ô tô biển kiểm soát 36C-264.36 với mặt ngoài bên trái yên xe, bên trái tay nâng, ốp nhựa bên trái thân xe máy điện nhãn hiệu JVC không gắn biển số. Tại thời điểm va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 36C-264.36 có hướng từ trái sang phải, cùng chiều so với chuyển động của xe máy điện nhãn hiệu JVC không gắn biển số. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong vực ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D với Quốc lộ D. Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 264.36 và xe máy điện tại thời điểm xảy ra va chạm giao thông. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu thập: 01 (một) camera an ninh của siêu thị N và 01 (một) camera tại ngã tư do Công an thị trấn T quản lý ghi lại nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Tại Bản Kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 02 đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất 10 hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 4010/KLGĐTT-PC09 ngày 24/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Các vết rách, lóc da, cơ, xây xước da, bầm tím, tụ máu tại vùng mặt, vai, lưng, mông, tay phải, hai chân; Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng; Gãy thân xương ức, gãy xương đòn phải; Gãy cung bên, cung sau xương sườn số 1 đến 8 bên phải; Gãy cung bên, cung sau xương sườn số 2 đến 9 bên trái; Dịch máu không đông lẫn máu cục tại: K ngực hai bên, khoang ngoài tim và ổ bụng; Dập rách, tụ máu diện rộng hai phổi; Tụ máu tổ chức liên kết xung quanh cuống tim; Dập rách nhu mô gan phải. Kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị V: Đa chấn thương.

Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Văn H2: Tại vị trí cẳng tay trái đến lòng bàn tay trái có một vết rách da chảy máu, kích thước (25 x 5)cm, bề mặt vết nham nhở; Tại vị trí gò má phải có một vết xây xước da kích thước (2 x 3)cm; Tại vị trí mu bàn chân phải có một vết xây xước da, rớm máu kích thước (7 x 10)cm.

Ngày 30/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 1255/QĐ-ĐTTH về việc trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ C giám định pháp y thương tích, cơ chế hình thành thương tích đối với Nguyễn Văn

H2.

Tại Bản kết luận giám định số: 8488/KL-KTHS ngày 21/11/2024 của V1 Bộ C xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H2 tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm). Về cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vùng cẳng – bàn tay trái của ông Nguyễn Văn H2 do tác động tương hỗ với vật tày gây ra; Tổn thương sây sát da vùng gò má phải, mu bàn chân phải của ông Nguyễn Văn H2 do chà sát với vật tày gây ra

Về định giá tài sản: Ngày 17/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Yêu cầu định giá số 2122/YC-ĐTTH về việc xác định giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe máy điện. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐG ngày 11/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: Giá trị bị hư hỏng sửa chữa, thay thế của xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu sơn đen xám đỏ là 1.630.200 đồng (một triệu sáu trăm ba mươi nghìn hai trăm đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Lê Thế P và gia đình bà Nguyễn Thị V đã thỏa thuận dân sự. Cụ thể, P bồi thường số tiền 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng) cho gia đình bà V về thiệt hại tính mạng của bà V, bồi thường số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) đối với thiệt hại về sức khỏe của ông Nguyễn Văn H2, đối với xe máy điện bị hư hỏng ông H2 không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSTX ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Thế P về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 14 đến 16 tháng tù cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn H2 và đại diện cho gia đình bị hại Nguyễn Thị V đã nhận đủ tiền bồi thường theo thỏa thuận nên đề nghị HĐXX không xem xét; Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (Viết tắt

là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Thế P thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 10 giờ ngày 11/10/2024, Lê Thế P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-264.36 di chuyển ở phần đường bên phải Quốc lộ D hướng từ xã T vào ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D, Quốc lộ D và đường liên xã đoạn qua khu F, thị trấn T, huyện T. Do P điều khiển xe ô tô vào gần ngã tư giao nhau đã lấn sang phần đường bên trái khoảng 1m, chuyển hướng rẽ phải không bật đèn xi nhan báo hướng rẽ, không chú ý quan sát nên đã đâm va vào ông Nguyễn Văn H2 đang điều khiển xe máy điện chở bà Nguyễn Thị V đang đi thẳng trong ngã tư. Hậu quả bà V tử vong do đa chấn thương, ông H2 bị tổn thương cơ thể 13% (mười ba phần trăm).

Bị cáo Lê Thế P tham gia giao thông đường bộ có Giấy phép lái xe hạng C. Tuy nhiên do điều khiển xe ô tô lấn làn, chuyển hướng không bật đèn xi nhan báo hướng rẽ, không chú ý quan sát khi qua nơi ngã tư giao nhau nên Lê Thế P đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9; khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 gây tai nạn làm chết 01 người và 01 người bị tổn thương cơ thể 13 %. Do đó bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, đủ cơ sở để HĐXX khẳng định Lê Thế P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng số 19/CT-VKSTX ngày 07/02/2025 của VKSND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra làm bà Nguyễn Thị V tử vong và ông Nguyễn Văn H2 tổn thương cơ thể 13%, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người khác, gây đau thương cho gia đình nạn nhân và trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, bị hại Nguyễn Văn H2 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo

nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo, bị hại Nguyễn Văn H2 và đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thị V đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo có tội và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại Nguyễn Văn H2, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Lê Thế P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS.

Xử phạt: Lê Thế P 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/3/2025). Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho Lê Thế P 01 giấy phép lái xe hạng C (Đang lưu giữ trong Hồ sơ vụ án).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc Lê Thế P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị V, vắng mặt bị hại Nguyễn Văn H2. Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/3/2025). Bị hại Nguyễn Văn H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Xuân Tuyên

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Sâm

Lê Đăng Thiện

Lê Xuân Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thế Phương - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger