|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HSST
Ngày 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Liên
- Bà Lê Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Bình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17-3-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HS ngày 05/3/2025 đối với các bị cáo: 1. Phạm Văn Q, sinh năm 1962; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Con ông: Phạm Hồng Q1 (Đã chết); Con bà: Phạm Thị B (Đã chết); A, chị, em ruột: có 06 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Vũ Thị Đ sinh năm 1963; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/12/2024, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).2. Phạm Văn T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 01/12; Con ông: Phạm Văn L (Đã chết); Con bà: Lê Thị M (Đã chết); A, chị, em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Dương Thị L1, sinh năm 1979; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/06/2014 đánh bạc, Công an huyện K lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
3. Nguyễn Như L2, sinh năm 1974; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Nguyễn Như L3 (Đã chết); Con bà: Phạm Thị Y, sinh năm: 1954; A, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bùi Thị T1, sinh năm 1979; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên.
4. Phạm Văn Đ1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông: Phạm Văn Điềm Đ2 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Đ3 (Đã chết); A, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
5. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 04/12; Con ông: Nguyễn Văn M1 (Đã chết); Con bà: Đỗ Thị Ạ (Đã chết); A, chị, em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị L4, sinh năm 1971; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
6. Phạm Văn V, sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông: Phạm Văn C (Đã chết); Con bà: Trần Thị Ấ, sinh năm: 1954; A, chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị Vân A, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/12/2024, Nguyễn Như L2, sinh năm 1974; Phạm Văn T, sinh năm 1978; Phạm Văn Đ1, sinh năm 1976; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965 và Phạm Văn V, sinh năm 1980 đều ở thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên đến nhà Phạm Văn Q sinh năm 1962, ở thôn D, xã T, huyện K chơi. Trong lúc Phạm Văn Q cùng những người trên ngồi uống nước tại gian phòng khách thì L2, T, Đ1, T2 và V rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” 10.000đ/01 lá. Lúc này Q cũng có mặt và đồng ý cho những người trên đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền. Mọi người thống nhất mỗi ván ai được “Sâm” sẽ bỏ ra số tiền 30.000đ gọi là tiền thuốc, nước cho chủ nhà. Tất cả lên gian phòng trên tầng 2 của nhà Q; Phạm Như L5 ngồi cạnh cửa ra vào, ngồi cạnh L5 ngược chiều kim đồng hồ là Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V thành vòng tròn trên chiếc chăn trải dưới nền nhà rồi tất cả sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn của Q để đánh bạc. Trong lúc các đối tượng đánh bạc, Q ngồi tại phòng khách đóng cửa chính để cảnh giới.
Hình thức chơi: Các đối tượng dùng bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài gồm các quân từ nhỏ đến lớn là 3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A, 2 mỗi quân đều có 4 chất Rô, C1, T3, B1 (chỉ tính lớn nhỏ không tính chất). Khi chơi mỗi người sẽ được chia 10 quân bài, người cầm cái sẽ đánh trước, còn lại hai quân bài để dưới lọc không sử dụng ở ván đó. Đánh lần lượt thành vòng tròn theo ngược chiều kim đồng hồ bắt đầu từ người cầm cái; ai đánh hết số bài trên tay thì về nhất, những người còn lại còn bài trên tay thì trả cho người về nhất số tiền tương ứng 10.000 đồng/01 quân bài; ai xin “Sâm” thành công thì được của mỗi người 200.000 đồng, nếu xin “Sâm” bị bắt thì phải mất số tiền 1.000.000 đồng cho người bắt được; ai có các quân bài lần lượt đến QKA (gọi là tới kịch) hoặc 03 quân 2 thì được thêm 50.000 đồng của những người còn lại; nếu trên bài có 04 quân 2 thì được mỗi người 250.000 đồng. Trong khi chơi bạc Phạm Văn Đ1 được “Sâm” 01 ván và để ra cạnh chiếc chăn đang ngồi 30.000 đồng mục đích để trả cho Q.
Cả 05 người chơi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang, quản lý thu giữ tiền tại chiếu và toàn bộ vật chứng liên quan, gồm: T4 tại chiếc chăn các đối tượng trải trên nền gian phòng tầng 2 nhà Q để đánh bạc số tiền 5.430.000 đồng, số tiền 30.000 đồng để ở cạnh chăn và tổng số tiền 3.870.000 đồng trong người Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1; 01 chiếc chăn có hoa văn nhiều màu sắc và 01 bộ bài tú lơ khơ gáy màu đỏ - vàng - trắng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với chiếc chăn có hoa văn nhiều màu sắc và 01 bộ bài tú lơ khơ gáy màu đỏ - vàng - trắng. Toàn bộ số tiền thu trên chiếc chăn các đối tượng ngồi đánh bạc và số tiền thu trên người các đối tượng là 9.330.000 đồng xác định dùng vào việc đánh bạc, Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện K.
Cáo trạng số 32 /CT - VKS - KC ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Văn T, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo Q đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Đ xác định chiếc vỏ chăn có nhiều hoa văn bị Cơ quan điều tra thu giữ là của gia đình bà.Tuy nhiên, chiếc chăn đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên bà không yêu cầu trả lại, bà nhất trí cho tịch thu để hủy bỏ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Văn T, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với từng bị cáo như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Văn Q, Phạm Văn T, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V đều phạm “Tội đánh bạc”.
- Xử phạt các bị cáo: Phạm Văn Q, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn V mỗi bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa đã có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 45 phút đến 10 giờ 00 phút ngày 26/12/2024, tại tầng 2 nhà ở của Phạm Văn Q, ở thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Như L2, Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn V đã có hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi “Sâm” với tổng số tiền đánh bạc là 9.330.000 đồng. Riêng bị cáo Phạm Văn Q, mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã có hành vi cho các bị cáo L2, T, Đ1, T2 và V tham gia đánh bạc tại nhà mình và đồng ý nếu bị cáo nào được “Sâm” sẽ bỏ ra 30.000đ cạnh chiếu bạc để cho bị cáo. Hành vi của Phạm Văn Q tuy chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội tổ chức đánh bạc” hoặc “Tội gá bạc” nhưng với vai trò là người giúp và hành vi của bị cáo đã cấu thành “Tội đánh bạc” nên bị cáo Q phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội đánh bạc”.
Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý vi phạm. Hành vi của các bị cáo nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng được nêu trong Cáo trạng số 32 /CT - VKS - KC ngày 25/02/2025 là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội.
- Về nhân thân: Ngày 14/8/2014, bị cáo Phạm Văn T bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; ngoài ra, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị được cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo phạm tội đánh bạc trong trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm và gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn gây bức xúc trong xã hội, làm tha hoá đạo đức con người, là một trong những nguyên nhân làm sa sút kinh tế, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích và cũng là để đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét tính chất, vai trò, mức độ thực hiện tội phạm để có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V tham gia với vai trò tích cực. Phạm Văn Q là chủ nhà, dùng địa điểm nơi ở của mình để cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc nên giữ vai trò là người giúp sức.
Với tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, cùng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, cùng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cho các bị cáo được hưởng án treo; giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo thường trú, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn T có nhân thân: ngày 14/8/2014, bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên phải chịu mức án cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Q, mặc dù là người dùng địa điểm nơi ở của mình cho các đối tượng tham gia đánh bạc nhưng không có hành động tổ chức, rủ rê, lôi kéo người tham gia đánh bạc, mà chỉ đơn thuần đồng ý cho các đối tượng đánh bạc và được hưởng lợi từ các con bạc bỏ ra nếu thắng “Sâm” nên được xác định giữ vai trò như các bị cáo khác và phải chịu mức án như các bị cáo còn lại.
[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo đều làm ruộng hoặc lao động tự do, thu nhập thấp nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a; b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu số tiền là 9.330.000 đồng, trong đó có 5.430.000 đồng trên chiếu bạc, 30.000đ để ở cạnh chiếu bạc là tiền đối tượng thắng “Sâm” để ra cho bị cáo Q và tổng số tiền 3.870.000 đồng trong người Phạm Văn T và Phạm Văn Đ1 nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
(Số tiền tịch thu hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1051703.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu tại Kho bạc Nhà nước huyện K).
- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếc vỏ chăn bị Cơ quan điều tra thu giữ là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKS-KC ngày 25/02/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).
[6] Về án phí: Cần buộc các bị cáo Nguyễn Như L2, Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Riêng bị cáo Q là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên cần miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 đối với các bị cáo: Phạm Văn Q, Nguyễn Như L2, Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V.
Tuyên bố: các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Như L2, Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V đều phạm “Tội đánh bạc”.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2025);
- Các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Như L2, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn V, mỗi bị cáo 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2025);
Giao các bị cáo có tên nêu trên cho UBND xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a; b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền là 9.330.000 đồng là số tiền thu tại chiếu bạc và số tiền thu trong người các bị cáo do có liên quan đến hành vi đánh bạc (Số tiền tịch thu hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1051703.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu tại Kho bạc Nhà nước huyện K).
- Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếc vỏ chăn có nhiều hoa văn là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKS-KC ngày 25/02/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Như L2, Phạm Văn T, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn V, mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn Q.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Trung Kiên |
Bản án số 17/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tội đánh bạc
- Số bản án: 17/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Q cùng đồng bọn đánh bạc
