Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số:17/2025/HSST

Ngày 26 - 02- 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Thanh
  2. Ông Trần Lê Anh Đức

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tổ chức phiên tòa trực tuyến, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tô Văn D (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/3/1990 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm D, xã L (nay là xóm D, xã L), huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Tô Hữu V (đã chết) và con bà Thái Thị C – sinh năm 1952; Anh chị em ruột: có 10 người, bị cáo là con thứ chín trong gia đình; Có vợ là Phan Thị S – sinh năm 1992 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự: không; Có 01 tiền án:

Ngày 14/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS tại Bản án số 191/2018/HS-ST. Hiện chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự của Bản án.

Nhân thân: Ngày 06/3/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS tại Bản án số 69/2013/HSST. Chấp hành xong Bản án ngày 27/11/2013.

Bị cáo Tô Văn D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)

- Người chứng kiến:

  1. Ông Trương Công M, sinh năm 1966; Trú tại: Xóm D, xã L (nay là xóm D, xã L), huyện Y, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  2. Chị Phan Thị S, sinh năm 1992; Trú tại: Xóm D, xã L (nay là xóm D, xã L), huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 08 giờ 00 phút ngày 17/10/2024, Tô Văn D đi bộ từ nhà mình ra bờ sông gần nhà, xin ngồi nhờ xe của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch đi đến ngã tư thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, đứng chơi một lúc thì D thấy một người đàn ông lái xe ôm trông giống người nghiện ma túy. Lúc này, Tô Văn D đi lại gần người đàn ông và nói: “Anh lấy được không? để cho em một triệu hê” (Nghĩa là D muốn hỏi mua của người này một triệu đồng ma túy Heroine). Người đàn ông hiểu ý D nên trả lời: “Đợi tý anh đi lấy cho” rồi lái xe đi đâu không rõ. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho Tô Văn D 01(một) gói ni long màu đen bên trong có chứa ma túy Heroine. Dương cầm gói ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên phải phía trước rồi đưa cho người đàn ông lái xe ôm số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, D xin ngồi nhờ xe của người một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch đi về nhà.

Khi về đến nhà, Tô Văn D đi vào phòng ngủ của mình, lấy gói ma túy ra rồi chia thành 06(sáu) gói nhỏ, mỗi gói được bọc bên ngoài bằng tờ giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroine. D bỏ 06(sáu) gói nhỏ này vào 01(một) ống nhựa trắng hình trụ, cất vào túi quần bên phải phía trước chiếc quần đang mặc để sử dụng dần.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi Tô Văn D đang đứng chơi tại sân nhà ở xóm D, xã L(nay là xã L), huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã L tiến hành kiểm tra. Do hoảng sợ nên D bỏ chạy ra khu vực vườn nhà rồi vứt từ lòng bàn tay phải ra khu vực bụi chuối trong vườn 01 (một) ống nhựa trắng hình trụ tròn cao 03 cm, đường kính 2,5 cm. Lực lượng công an đã kịp thời giữ lại, kiểm tra bên trong có 06 gói giấy màu trắng chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy). Tổ công tác Công an xã L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Ngày 18/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định. Sau khi loại bỏ bao bì, chất rắn màu trắng thu giữ của Tô Văn D có tổng khối lượng là 0,865g(không phẩy tám trăm sáu mươi lăm gam). Hội đồng đã lấy 0,6g (không phẩy sáu gam) chất rắn màu trắng gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 918/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 22 tháng 10 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

“Các mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Tô Văn D gửi đến giám định đều là ma túy; loại Heroine. Số chất rắn màu trắng(06 gói) thu giữ của Tô Văn D có tổng khối lượng là 0,865g(không tám trăm sáu mươi lăm gam)”.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSYT, ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố Tô Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Tô Văn D từ 24(Hai mươi tư) tháng tù đến 27(Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

- Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng là vật cấm tàng trữ lưu hành, không còn giá trị sử dụng, gồm: Toàn bộ ma túy thu giữ còn lại sau giám định cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong.

- Về án phí: Buộc bị cáo Tô Văn D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận đối đáp gì với bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ buộc tội: Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 17/10/2024, tại sân nhà Tô Văn D thuộc khu vực xóm D, xã L(nay là xã L), huyện Y, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Tô Văn D đang có hành vi tàng trữ 0,865g (không phẩy tám trăm sáu mươi lăm gam) ma túy Heroine. Mục đích Tô Văn D tàng trữ ma túy là để sử dụng.

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Y truy tố bị cáo Tô Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Vụ án thuộc loại án nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội; trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người; tiếp tay cho tệ nạn ma túy mà cả xã hội đang chung sức đẩy lùi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, ngoài ra bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố mẹ bị cáo tham gia cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không cần thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với các vật chứng là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy gồm: Toàn bộ ma túy thu giữ còn lại sau giám định cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong.

[6]. Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông lái xe ôm ở khu vực ngã tư thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An theo lời khai của Tô Văn D đã bán ma túy cho D và hai người đàn ông cho D đi nhờ xe liên quan đến hành vi phạm tội vào ngày 17/10/2024: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch. Khi nào xác định được sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS,

    - Xử phạt: Bị cáo Tô Văn D 25(Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo(ngày 18/10/2024).

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 0.265g(Không phẩy hai trăm sáu mươi lăm gam) ma túy Heroine cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong.

    Toàn bộ số vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

    Buộc bị cáo Tô Văn D phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Yên Thành;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Công an huyện Yên Thành
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An.
  • - Chi cục THADS Yên Thành;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Hưng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 17/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger