Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HSST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thủyông Nguyễn Bá Long.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Sỹ Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trịnh Tuấn A, sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

SỐ CCCD: [...], cấp ngày 04/10/2022.

Trú tại: Thôn T, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông: Trịnh Văn B ( đã chết) và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1982.

Chức có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại Bản án số 64/2019/HS-ST ngày 07/6/2019, Trịnh Tuấn A bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 16/4/2020 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 15/3/2022 nộp xong án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến ngày 23/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 10 phút ngày 14 tháng 10 năm 2024, Công an xã D, huyện T và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T, xã D, huyện T phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Trịnh Tuấn A 05 (năm) viên nén màu hồng đựng trong 01 (một) túi nilon tại gác để đồ phía trước xe mô tô Honda Airblade biển số 36B1 – 70069 mà Tuấn A điều khiển. Vật chứng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.

Quá trình điều tra, Trịnh Tuấn A khai nhận: Bản thân bị cáo sử dụng ma túy (hồng phiến) từ khoảng đầu tháng 10 năm 2024. Khoảng 12 giờ ngày 14 tháng 10 năm 2024, Tuấn A đi đến khu vực gần cây xăng và Trạm đăng kiểm xe cơ giới thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ thì gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện của người thường sử dụng ma túy nên dừng lại hỏi mua ma túy loại hồng phiến thì người này nhận lời. Tuấn A đưa 700.000 đồng rồi chờ khoảng 15 phút sau thì người này quay lại và ném 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén màu hồng xuống đất cách chỗ Tuấn A đứng khoảng 30m. Tuấn A đến nhặt lên và mang về để sử dụng, không có mục đích nào khác. Khi đi đến Quốc lộ D thuộc địa phận thôn T, xã D, huyện T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trịnh Tuấn A thu giữ tại đầu giường ngủ phòng khách 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S.

Xét nghiệm nước tiểu đối với Trịnh Tuấn A cho kết quả dương tính với ma túy, loại A1 và M.

Tại bản Kết luận giám định số 3915/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 05 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,481g (không phẩy bốn tám một gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 13/CT- VKS- TS, ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, truy tố bị cáo Trịnh Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận việc phạm tội của mình và khẳng định bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội. Bị cáo khẳng định bị cáo chỉ mua ma túy về để sử dụng, không có mục đích bán để kiếm lời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Trịnh Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Trịnh Tuấn A từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo;
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • + Đề nghị tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
  • - Về án phí đề nghị: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn. Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, bị cáo nhận thức thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Hồi 13 giờ 10 phút ngày 14 tháng 10 năm 2024, Công an huyện T trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực Quốc lộ D thuộc địa phận thôn T, xã D, huyện T đã phát hiện bắt quả tang Trịnh Tuấn A có hành vi tàng trữ 0,481g (không phẩy bốn tám một gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Như vậy hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện. Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng không rút ra được bài học để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân nghiện ma túy, nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

2. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Xử phạt: Bị cáo 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 10 năm 2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo;

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản bàn giao tang vật ngày 25 tháng 02 năm 2025.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH 14 ngày 30/6/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333; 336; 337 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Thủy Nguyễn Bá L

Lê Thị T

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Triệu Sơn;
  • - Công an huyện Triệu Sơn;
  • - Chi cục THA huyện Triệu Sơn
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Tuấn A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger