1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HSST
Ngày: 18-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Công Danh. |
| Bà Dương Bích Cảm. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 03/12/1990.
Nơi thường trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trường K và bà Lê Thị Kim C; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 25/2021/HSST, ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/4/2023 và Bản án số 112/2023/HSST, ngày 07/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2024; Tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 05/QĐ-UBND, ngày 23/01/2013 của UBND huyện N, Tp . xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời gian 24 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 30/01/2015; Quyết định số 272/QĐ-TA, ngày 19/8/2015, của Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính
2
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 19/12/2016 và Quyết định số 12/QĐ-TA, ngày 05/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 14/10/2019. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Trần Bá L, sinh ngày: 30/6/1988.
Tên gọc khác: Duy E.
Nơi thường trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Bá L1 và bà Nguyễn Thị D; Bản thân có vợ tên Quách Ngọc D1 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2008; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1/ Phạm Chí N, sinh năm: 2000 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
2/ Trần Quốc D2, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Võ Ngọc T, sinh năm: 2004 (vắng mặt).
Cư trú: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 24/10/2024, sau khi nhậu xong Trần Bá L điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, biển số: 62X1 - 0327 chở Nguyễn Hoàng S đến nhà em ruột của S là Nguyễn Hoàng T1 tại ấp T, xã Đ, huyện C để S xin tiền T1 trả nợ cho L, nhưng T1 không có nhà nên L chở S về. Khi về đến đoạn đường giao thông nông thôn phía trước đình T thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, S phát hiện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu trắng - đen, biển số: 62M1 – 249.19 của Phạm Chí N đang đậu tại sân đình không có người trông coi, có gắn sẵn chìa khoá trên xe, nên S nảy sinh ý định lấy trộm xe trên bán lấy tiền tiêu xài. S chỉ và nói với L là xe có gắn
3
sẵn chìa khóa mà không có người trông coi, kêu L đậu xe chờ để S vào lấy trộm xe, L đồng ý và đứng đợi bên ngoài. Khi S vào trong sân thì thấy N đang câu cá cách đó khoảng 05 mét, S đi lại nói chuyện với N và chỉ cho N chỗ có cá, với mục đích đánh lừa làm cho N đi qua khu vực khuất tầm nhìn để S lấy trộm xe. Khi N vừa qua khu vực bị che khuất thì S nói dối với N là để S ra lấy cần câu. Lúc này, S đi ra chỗ xe của N đang đậu rồi dẫn xe ra tới hẻm đình thì bị N phát hiện tri hô, nên S nổ máy xe chạy ra đường tỉnh 826C. Khi thấy S lấy trộm được xe chạy ra trước thì L điều khiển xe cùng tẩu thoát theo sau. S điều khiển xe mô tô vừa trộm được đến tiệm C1 thuộc khu phố H, thị trấn C, huyện C gặp anh Võ Ngọc T (chủ tiệm cầm đồ) cầm được số tiền 2.000.000 đồng nhưng S nói dối với L chỉ cầm được 1.500.000 đồng. Cả hai tiêu xài chung hết 300.000 đồng và chia nhau mỗi người được 600.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu trắng – đen, biển số: 62M1 – 249.19, số máy: JC52E1309828, số khung: 5280DY064946 trị giá 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng S còn khai nhận: khoảng 19 giờ 00 ngày 25/10/2024, S đi bộ trên đường giao thông nông thôn thuộc ấp T, xã L, huyện C thì phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu Wise, loại Wave, màu xanh, biển số: 62H8 - 9916 của anh Trần Quốc D2 đang đậu trước sân nhà không có người trông coi, có gắn sẵn chìa khóa trên xe, nên S nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên, S đi vào dẫn xe ra ngoài đường lộ rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát về hướng Tp .. Đến sáng ngày 26/10/2024, S tháo biển số xe 62H8 - 9916 ném bỏ trên đường đi nhưng không nhớ địa điểm, rồi điều khiển xe đến tiệm C1 thuộc khu phố H, thị trấn C, huyện C gặp Võ Ngọc T cầm được số tiền 1.000.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wise, loại Wave, màu xanh, biển số: 62H8 – 9916, số khung: BCH014DR-000688, số máy: 52FMH-340116696 trị giá 2.167.000 đồng (hai triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSCG ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Trần Bá L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
4
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng S từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Bá L từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu trắng - đen, biển số: 62M1 – 249.19 cho bị hại Phạm Chí N; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wise, loại Wave, màu xanh, biển số: 62H8 – 9916 cho bị hại Trần Quốc D2 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHADOW, loại Wave, màu đỏ, biển số: 62X1-0327 cho bà Nguyễn Thị D (mẹ ruột của bị cáo L), là phù hợp.
Về dân sự: Bị hại Phạm Chí N và Trần Quốc D2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Võ Ngọc T không yêu cầu hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng mà S đã cầm cố xe mô tô cho T. Nên đề nghị không xem xét.
Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Hai bị cáo trong lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
5
[2] Qua điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo Nguyễn Hoàng S và Trần Bá L khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 24/10/2024, bị cáo L điều khiển xe mô tô chở bị cáo S khi đi ngang đình T thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, thì S phát hiện xe mô tô biển số 62M1-249.19 của Phạm Chí N, đang đậu trong sân đình, S kêu L dừng xe lại để vào bên trong lấy trộm, thì L đồng ý và ngồi đợi phía bên ngoài. Sau khi lấy trộm xe xong, cả hai đi cầm cố được số tiền 2.000.000 đồng. Ngoài ra ngày 25/10/2024, S còn tiếp tục thực hiện hành vi lén lút lấy trộm một xe mô tô biển số 62H8-9916 của Trần Quốc D2 đang đậu trong sân nhà tại ấp T, xã L, huyện C rồi đem đi cầm cố được 1.000.000 đồng. Theo Kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐGTS, ngày 28/10/2024, kết luận: tài sản bị cáo S và L chiếm đoạt vào ngày 24/10/2024 trị giá 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng) và theo Kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS, ngày 20/11/2024, kết luận: tài sản bị cáo S chiếm đoạt vào ngày 25/10/2024 trị giá 2.167.000 đồng (hai triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Giá trị tài sản bị cáo S và L chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo L cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc hai bị cáo S và L cùng thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 24/10/2024, nhưng không có sự bàn bạc phân công vai trò trước đó, là đồng phạm giản đơn, nên không xem xét đến tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là phạm tội có tổ chức.
[3] Bị cáo S có hai tiền án, cụ thể Bản án số 25/2021/HSST, ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/4/2023 và Bản án số 112/2023/HSST, ngày 07/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2024, chưa được xóa án tích, thì ngày 24 và ngày 25 tháng 10 năm 2024, bị cáo S lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới với lỗi cố ý. Nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của hai bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Hai bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của hai bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
6
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo: bị cáo L phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo S đã hai lần thực hiện hành phạm tội đều đủ định lượng (trên 2.000.000 đồng) là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về nhân thân hai bị cáo: bị cáo L có nhân thân tốt, bị cáo S có nhân thân xấu, cụ thể: có 02 (hai) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” như đã phân tích tại phần [3] và một lần bị Ủy ban nhân dân huyện N, Tp . đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hai lần bị Tòa án quyết định đưa đi tập trung cai nghiện.
[8] Với những phân tích trên, xét thấy hình phạt dành cho bị cáo S phải cao hơn bị cáo L và xét thấy cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với hai bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[9] Đối với Võ Ngọc T khi nhận cầm cố 02 (hai) xe mô tô từ S, nhưng không biết đây là tài sản do S phạm tội trộm cắp mà có, nên hành vi của T không đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, T đã có hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” vi phạm vào điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra có Công văn số 17/ĐTTH, ngày 14/01/2025 chuyển hồ sơ đến Công an huyện C để xử phạt theo thẩm quyền.
[10] Về tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Phạm Chí N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu trắng - đen, biển số: 62M1 – 249.19 và hoàn trả cho bị hại Trần Quốc D2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wise, loại Wave, màu xanh, biển số: 62H8 – 9916, là phù hợp. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHADOW, loại Wave, màu đỏ, biển số: 62X1-0327 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị D (mẹ ruột của bị cáo L) việc bị cáo L sử
7
dụng xe mô tô này để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà D không biết. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà D, là phù hợp.
[11] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại Phạm Chí N và Trần Quốc D2 vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 134 và bút lục số 143) thể hiện hai bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu, nên không xem xét. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Võ Ngọc T vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 144-145) thể hiện không yêu cầu về số tiền 3.000.000 đồng cầm xe mô tô, nên không xem xét.
[12] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S và Trần Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Bá L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo S và L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
8
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 18 tháng 02 năm 2025 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 18 tháng 02 năm 2025.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Công Danh. |
| Bà Dương Bích Cảm. |
9
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS, ngày 23/01/2025 đối với bị cáo: Nguyễn Hoàng Sơn và Trần Bá Lượng.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tôi danh:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Sơn và Trần Bá Lượng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Đối với Nguyễn Hoàng Sơn: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Đối với Trần Bá Lượng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Nguyễn Hoàng Sơn 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2024.
Xử phạt: Trần Bá Lượng 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Về án phí: bị cáo Sơn và Lượng, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ
10
liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA |
|
NGUYỄN CÔNG DANH – DƯƠNG BÍCH CẢM |
NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 17/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về hình sự: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 17/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
