Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HSST

Ngày 13/11/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ.

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Tiến Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Thị N, sinh ngày 18/4/1969 tại V, Phú Thọ.

Nơi thường trú: Khu T, xã V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn K, sinh năm 1931(đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1937 (đã chết); chồng Nguyễn Hữu V, sinh năm 1968 (đã chết) và 01 con, sinh năm 1995.

Tiền án; tiền sự; nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/8/2025 đến ngày 27/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại.

(Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 23/10/2010;
    Địa chỉ: Khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    (Vắng mặt)

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Huy H: Chị Nguyễn Thị Thanh T, SN 1978 (là mẹ đẻ cháu Nguyễn Huy H);
    Địa chỉ: Khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    (Vắng mặt)

  • + Cháu Lò Thị T1, sinh ngày 22/8/2011;
    Địa chỉ: Bản N, xã B, tỉnh Lai Châu.

    (Vắng mặt)

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Lò Thị T1: Chị Lò Thị Đ1, sinh năm 1992 (là mẹ đẻ cháu Lò Thị T1);
    Địa chỉ: Bản N, xã B, tỉnh Lai Châu.

    (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Thị N, sinh ngày 18/04/1969 ở khu T, xã V, tỉnh Phú Thọ có ký kết Hợp đồng số 2904/HĐĐLXS làm đại lý bán vé xổ số với Công ty TNHH một thành viên X ngày 01/7/2024, được bán các loại vé xổ số gồm: vé xổ số kiến thiết miền B; vé xổ số lô tô; vé xổ số biết kết quả ngay (xổ số bóc và xổ số cào) và các loại vé, loại hình xổ số khác do Công ty phát hành theo quy định pháp luật tại địa điểm bán vé thuộc khu B, xã V, huyện C, (nay là khu T, xã V), tỉnh Phú Thọ. Quá trình làm đại lý bán vé xổ số cho Công ty, N thấy càng ngày người mua vé xổ số càng ít, tiền thu được từ việc bán vé số rất thấp và gần đây lại có nhiều người đến hỏi N để mua số lô, số đề, do vậy ngày 24/8/2025 N nảy sinh ý định lợi dụng việc bán vé xổ số để bán số lô, số đề cho người chơi nhằm thu lời bất chính cao để có tiền tiêu sài cá nhân. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi N đang ở nhà thì có Nguyễn Huy H, sinh ngày 23/10/2010 ở khu khu xóm M, xã T, tỉnh Phú Thọ và Lò Thị T1, sinh ngày 22/8/2011 ở bản N, xã B, tỉnh Lai Châu đến gặp N hỏi mua số lô, số đề, N đồng ý.

Phùng Thị N và các đối tượng thỏa thuận, thống nhất chơi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề, quy ước như sau: Người chơi tự lựa chọn 02 chữ số trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99, có thể mua một hoặc nhiều số. Số đề mua với mức tiền tùy ý; số lô thì mua theo điểm, mỗi điểm là 23.000đ (không giới hạn số điểm mua). Sau đó, đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày. Nếu số đề đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt (số hàng chục và hàng đơn vị) thì người chơi thắng bạc và được trả gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó. Nếu số lô đã mua trùng với hai số cuối (số hàng chục và hàng đơn vị) của bất kỳ giải thưởng nào (từ giải nhất cho đến giải đặc biệt) thì người chơi thắng bạc và được trả 80.000đ/01điểm, trường hợp số lô trùng nhiều lần thì sẽ được số tiền tương ứng gấp số lần trùng số lô đã mua (tính không quá 03 lần). Nếu không trùng là thua bạc và mất số tiền đã mua. Người chơi thắng bạc sẽ đến gặp trực tiếp N để nhận tiền. Thống nhất xong, N bán cho H và T1 số lô, số đề cụ thể như sau: N bán cho H: 02 (hai) số lô 76 và 41 mỗi số lô là 50 điểm, tổng số điểm lô là 100 điểm giá 2.300.000đ; 04 (bốn) số đề gồm các số 26, 83, 14, 51 mỗi số đề giá 100.000đ, tổng là 400.000đ. Tổng số tiền N bán số lô, số đề cho H là 2.700.000₫ (H đã trả đủ số tiền này cho N). Nguyệt bán cho T1 02 (hai) số lô 23 và 56 mỗi số lô là 50 điểm, tổng số điểm lô là 100 điểm giá 2.300.000đ; 04 (bốn) số đề gồm các số 16, 22, 52, 93 mỗi số đề giá 100.000đ, tổng là 400.000đ. Tổng số tiền N bán số lô, số đề cho T1 là 2.700.000đ (T1 đã trả đủ số tiền này cho N). Như vậy, số tiền N nhận được từ việc bán số lô, số đề cho H và T1 là 5.400.000đ.

N dùng 01 bút bi mực nước màu xanh ghi các số lô, số điểm và số đề, số tiền T1 và H mua vào 01 Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô, MST 2600169788 mở thưởng ghi ngày 24 tháng 8 năm 2025 có tên đại lý Phùng Thị N và chữ ký của N dùng để làm bảng lô, đề đối chiếu với kết quả của người chơi. Sau đó, N lấy 02 (hai) tờ vé xổ số kiến thiết Phú Thọ (một vé có dãy số 0024985, một vé, có dãy số 0024984) mệnh giá ghi trên vé 10.000đ, N dùng 02 vé xổ số này làm cáp lô đề, ghi lại các số lô, số đề tương ứng với số điểm, số tiền T1 và H đã mua để bán số lô, số đề cho T1 và H mỗi người giá 2.700.000đ, (việc bán này không theo quy định của Công ty) rồi đưa lại cho T1 và H (mỗi người 01 cáp đề riêng tương ứng với người chơi đã mua) để người chơi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày. Tuy nhiên, khi N vừa mới đưa cáp lô, đề cho T1 và H, chưa đến giờ mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc cùng ngày thì N bị Tổ công tác Công an xã V, phát hiện, bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm:

  • + Thu giữ của H 01 vé xổ số kiến thiết Phú Thọ, có dãy số 0024985, đề mệnh giá 10.000đ, có ghi số lô, số đề tương ứng với số điểm và số tiền H đã mua.
  • + Thu giữ của T1 01 vé xổ số kiến thiết Phú Thọ, có dãy số 0024984 đề mệnh giá 10.000đ, có ghi số lô, số đề tương ứng với số điểm và số tiền T1 đã mua.
  • + Thu giữ của N: Số tiền 5.400.000đ; 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh; 01 bảng kê dự thưởng xổ số lô tô của xổ số kiến thiết tỉnh Phú Thọ, mở thưởng ghi ngày 24/8/2025, tên đại lý Phùng Thị N, mã số thuế: 2600169788 có ghi các số lô, số đề và tổng số tiền đã bán cho H, T1 và có chữ ký của N;

Sau đó chuyển về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, N đã thành khẩn khai nhận hành vi đánh bạc của mình như trên và xác định tổng số tiền N sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.400.000đ. Ngoài ra, N khai nhận: Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô và 02 tờ vé xổ số kiến thiết Phú Thọ, N lấy dùng để làm bảng và cáp lô, đề phục vụ cho hành vi đánh bạc mà cơ quan điều tra thu giữ đều do Công ty TNHH một thành viên X cấp. Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô là để ghi theo dõi những vé xổ số từng ngày bán được rồi gửi về công ty, còn 02 vé xổ số kiến thiết Phú Thọ là vé xổ số để N bán, mỗi vé bán với mệnh giá 10.000đ (theo quy định của Công ty). Tuy nhiên, ngày 24/8/2025 N lấy Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô để làm bảng lô, đề ghi các số lô, số đề tương ứng với số điểm, số tiền đã bán cho người chơi; còn 02 tờ vé xổ số N không bán với mệnh giá 10.000đ theo quy định mà N dùng làm cáp số lô, đề ghi các số lô, số đề tương ứng với số điểm, số tiền của người chơi đã mua và đưa cho người chơi giữ. Nguyệt sẽ ghi dãy số của 02 vé xổ số này vào Bảng kê dự thưởng xố số lô tô khác (thể hiện đã bán được vé) để gửi về công ty. N làm như vậy để che dấu việc thực hiện hành vi đánh bạc của mình. Đây lần đầu thực hiện hành vi đánh bạc, mới chỉ bán được số lô, số đề cho T1 và H thì đã bị công an phát hiện và bắt giữ. Toàn bộ bảng lô, đề và tiền nhận được từ hành vi bán số lô, đề N đều không chuyển cho ai khác mà giữ lại để hưởng lợi và tự trả tiền cho người chơi nếu trúng thưởng. Lời khai của N phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phùng Thị N trình bày thừa nhận đã thực hiện hành vi “Đánh bạc” như trên, không có lời bào chữa nào khác.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSKV6 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ truy tố bị cáo Phùng Thị Nguyệt về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phùng Thị N về tội "Đánh bạc" và đề nghị:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị N phạm tội "Đánh bạc".

Đề nghị xử phạt bị cáo: Phùng Thị N từ 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng) đến 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu để sung ngân sách nhà nước: Số tiền 5.400.000đồng thu giữ của bị cáo N (hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo ủy nhiệm chi ngày 06/11/2025 giữa Công an tỉnh P và Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

Tịch thu 01 bút mực nước màu xanh thu giữ của bị cáo N để tiêu hủy theo quy định.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 bảng kê dự thưởng xổ số lô tô, mở thưởng ghi ngày 24/8/2025, tên đại lý Phùng Thị N, mã số thuế: 2600169788 có chữ ký của N và 02 tờ vé xổ số kiến thiết Phú Thọ đều của Công ty TNHH một thành viên X cấp (trên bề mặt đều có ghi các số lô, số đề tương ứng với số tiền, số điểm người chơi đã mua).

Về án phí: Bị cáo Phùng Thị N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa bị cáo Phùng Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung quyết định truy tố là đúng, không oan sai. Đề nghị Toà án xét xử áp dụng mức hình nhẹ nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Toà án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ, nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận:

Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 24/8/2025 tại khu T, xã V, tỉnh Phú Thọ, Phùng Thị N, sinh ngày 18/04/1969 ở khu T, xã V, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Huy H, sinh ngày 23/10/2010 ở khu khu xóm M, xã T, tỉnh Phú Thọ và Lò Thị T1, sinh ngày 22/8/2011 ở bản N, xã B, tỉnh Lai Châu với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.400.000đ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai trong quá trình điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Phùng Thị N phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[2.2]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét tính chất vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe và hiểu biết xã hội nhưng đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung;

[2.3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, trước lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và các quy định khác của pháp luật thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, cũng như để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

+ Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Do bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[3] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với số tiền 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo N là tiền bị cáo N bán số lô, số đề mà có nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 bút bi mực nước màu xanh thu giữ của bị cáo N. Đây là dụng cụ để bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội là vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 bảng kê dự thưởng xổ số lô tô, mở thưởng ghi ngày 24/8/2025, tên đại lý Phùng Thị N, mã số thuế: 2600169788 có chữ ký của N và 02 tờ vé xổ số kiến thiết Phú Thọ đều của Công ty TNHH một thành viên X cấp (trên bề mặt đều có ghi các số lô, số đề tương ứng với số tiền, số điểm người chơi đã mua). Đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được lưu hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Huy H và Lò Thị T1, mỗi người đã sử dụng số tiền 2.700.000 đồng để đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề ngày 24/8/2025. Tuy nhiên, H và T1 đều là người dưới 16 tuổi, nhân thân tốt; do đó cơ quan điều tra đã lập và chuyển hồ sơ đề nghị Văn phòng cơ quan CSĐT công an tỉnh P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và T1 là phù hợp, đúng quy định.

[4] Về án phí:

Bị cáo Phùng Thị N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Điều luật áp dụng:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s, Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Căn cứ: Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T1, M1, G, T1, N1, Quản lý và sử dụng Án phí, Lệ phí Tòa án.

[2] Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo: Phùng Thị N 23.000.000 đ (Hai mươi ba triệu đồng chẵn).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Số tiền này Công an tỉnh P đã chuyển vào tài khoản số: 39490105413400000 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (theo Ủy nhiệm chi ngày 06/11/2025 giữa Công an tỉnh P và Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
  • - Tịch thu để tiêu hủy 01 (Một) chiếc bút mực nước màu xanh.

    (Vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Phú Thọ).

  • - Lưu hồ sơ vụ án các vật chứng là tài liệu gồm: 01 bảng kê dự thưởng xổ số lô tô, mở thưởng ghi ngày 24/8/2025, tên đại lý Phùng Thị N, mã số thuế: 2600169788 có chữ ký của N và 02 tờ vé xổ số kiến thiết Phú Thọ đều của Công ty TNHH một thành viên X cấp (trên bề mặt đều có ghi các số lô, số đề tương ứng với số tiền, số điểm người chơi đã mua) đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được lưu hồ sơ vụ án.

[4] Về án phí:

Bị cáo Phùng Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV6;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THADS KV6, tỉnh Phú Thọ
  • - UBND xã Vân Bán;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HSST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 17/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ Đánh bạc Phùng Thị Nguyệt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger