1
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HS-PT Ngày: 14 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thành Tân
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Phước Hùng
bà Võ Thị Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Tuyết Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 182/2024/TLPT – HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thanh V, sinh năm 1975, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị P và 01 người con sinh năm 2007; tiền sự: không.
Tiền án: vào ngày 16/9/2013 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 12 tháng 10 năm 2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty cổ phần V1
Địa chỉ trụ sở: Số A, S, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Sĩ N – Tổng giám đốc.
Nơi cư trú: Số G C/C A, khu phố E, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần V1: ông Hà Sỹ T, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn E, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
2
Nơi ở hiện tại: Số A đường N, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 09/5/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Trần Minh T1, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Đối với những người tham gia tố tụng khác Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 8/2023, bị cáo V được nhận vào làm tài xế lái xe chở hàng cho Công ty Cổ phần V1 (Công ty V2) có trụ sở tại phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng làm tài xế với V có anh Trần Minh T1. V được Công ty giao 01 xe ôtô tải, loại xe thùng, trên thùng có in chữ “Xe thư báo” để vận chuyển hàng hóa. Trong thời gian đi làm, V và anh T1 thuê phòng trọ ở chung với nhau trên tầng 2 của Công ty P1 - Giờ - Giây thuộc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (trong Khu công nghiệp B). Khoảng 07 tháng sau khi làm việc, V vi phạm những quy định của Công ty nên bị trừ lương nên không có đủ tiền tiêu xài. Trong thời gian làm việc và ở chung phòng trọ với anh T1 thì V biết anh T1 cũng được Công ty V2 giao cho 01 chiếc xe ô tô tải biển số 51D-806.57, nhãn hiệu ISUZU để chở hàng, chiếc xe này anh T1 thường đậu cặp lộ phía trước Công ty Phút - Giờ - Giây, V nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe ô tô tải này. Sau đó, V nhìn thấy có chiếc chìa khóa cũ (loại dùng mở xe ô tô tải) treo trên cửa sổ trong phòng trọ nên V lấy mở thử thì mở được khóa của xe ô tô tải biển số 51D-806.57.
Để chuẩn bị cho việc bán được xe sau khi lấy trộm nên trước khi thực hiện khoảng 20 ngày, V lén chụp ảnh chiếc xe ô tô tải 51D-806.57 gửi cho Nguyễn Văn H1 và Trần Hồng D là người Việt quen biết làm ở garage xe ô tô “Hiếu Khang” tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để nhờ tìm chỗ bán dùm, V nói với anh H1 và anh D về nguồn gốc xe có được là do lấy trừ nợ và có nói là xe không giấy tờ để bán phế liệu. Sau khi được V gửi hình ảnh chiếc xe thì anh D liên hệ với anh Hà Hoàng T2 (là người mua bán máy cày) và gửi hình ảnh xe cho anh T2 xem, D hỏi T2 có mua xe không? T2 xem xong thì hỏi D “xe có giấy tờ gì không? xe có ủy quyền mua bán gì không?”, D nói không có nên T2 không mua. Sau đó, T2 gọi điện thoại cho anh Võ Thanh H2 (làm nghề mua bán xe cũ) nhờ giới thiệu người để bán xe, thì H2 nói đã lâu quá không làm, nếu T2 cần bán thì để H2 giới thiệu cho.
3
Vào ngày 20/4/2024, bị cáo V bị Công ty V2 cho thôi việc nên V về ở phòng trọ đang thuê tại Công ty Phút - Giờ - Giây. Đến khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, V thấy xe ô tô tải biển số 51D-806.57, nhãn hiệu ISUZU đang đậu cặp lộ phía trước Công ty Phút - Giờ - Giây, còn anh T1 lái xe này đã về nhà ở tại xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. V quan sát thấy tại Công ty P1 - Giờ - Giây vào lúc này không có người nên V lấy chìa khóa có được từ trước lén lút đến mở khóa chiếc xe ô tô tải 51D – 806.57 điều khiển chạy đi. Sau khi lấy trộm được xe, V điều khiển chạy xuống khu vực Công ty C1 trong khu Công nghiệp B rồi tháo bỏ hệ thống định vị GPS của xe ra để tránh bị phát hiện, sau đó V điều khiển xe chạy qua khu vực X thuộc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. V gọi điện thoại cho H1, D đến để xem xe và nhờ bán. Sau đó D gọi điện thoại cho T2 nói xe kêu bán lúc trước đang đậu tại X và hỏi T2 có mua xe không, lúc này T2 đang trên đường chạy xe về quê ở xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên nói khi đi ngang thì ghé xem xe. Trên đường đi T2 có gọi điện thoại cho H2 để cho biết là đang trên đường đi xem chiếc xe lúc trước kêu bán, thì H2 giới thiệu với T2 có ông Trần Văn T3 ở thành phố M, tỉnh Tiền Giang và kêu T2 đem xe lên gặp ông T3 để thỏa thuận việc mua bán. Sau đó, H2 gọi điện thoại lại cho ông T3 để nói là “muốn mua xe xem kỹ giấy tờ” nếu mua thì kêu người bán viết cam kết là “bao xe không tranh chấp, không liên quan đến trộm cắp, chụp hình người bán xe lại”. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì T2 đến gặp bị cáo V để xem chiếc xe và trao đổi việc mua bán xe, sau khi xem xe xong và do xe không có giấy tờ nên T2 không mua. T2 giới thiệu ông T3 cho V và chỉ đường cho V chạy xe ô tô tải biển số 51D-806.57 đến Tiền Giang gặp ông T3 để bán xe. Sau đó thì D đi chung xe với V, còn H1 thì điều khiển xe môtô chạy theo.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T2 dẫn V, D, H1 đến gặp ông T3 thì V là người trực tiếp thỏa thuận việc mua bán xe ôtô tải biển số 51D-806.57 với ông T3, giá bán là 40.000.000đ. Ông T3 đồng Ý mua xe và kêu V viết giấy bán xe nội dung “xe này không ăn cắp trộm” rồi Việt ký tên, ghi họ tên. Ông T3 chuyển khoản số tiền 40.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của V, sau đó V cho D, H1 9.000.000đ tiền công giới thiệu bán xe (mỗi người 4.500.000đ). Sau đó V quay về nhà trọ ở trong khu Công nghiệp B, rồi đi qua huyện C, tỉnh Đồng Tháp để lẫn trốn.
Sau khi ông T3 mua được chiếc xe thì ông T3 cho H2 và T2 số tiền 10.000.000đ (tiền công giới thiệu mua xe), sau đó ông T3 kêu con ruột là anh Trần Võ Minh Q chụp ảnh chiếc xe vừa mua đăng lên trang mạng ứng dụng Zalo để rao bán lại xe (khi đăng bán thì có để thông tin số điện thoại của ông T3, loại xe tải ISUZU 05 tấn không giấy tờ, biển số của chiếc xe đã được tháo ra). Đến ngày 05/5/2024, anh Võ Thành N1 (là người quen biết với ông T3) biết được ông T3 có bán chiếc xe ô tô tải cũ nên trong ngày anh N1 đã giới thiệu cho anh Phạm
4
Văn C mua xe này của ông T3 với giá 65.000.000đ, anh C trả được 60.000.000₫, còn 5.000.000₫ chưa trả.
Đến ngày 11/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B mời Nguyễn Thanh V làm việc và V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 06/KL.ĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, tỉnh Vĩnh Long kết luận: chiếc xe ôtô tải biển số 51D-806.57 hiệu ISUZU có giá trị là 226.476.000đ.
Trong quá trình điều tra, vật chứng và tài sản đã được xử lý như sau:
+ Đối với chiếc xe ô tô tải hiệu ISUZU, 02 biển số xe 51D-806.57 đã thu hồi lại được (do anh C và ông T3 giao nộp), Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho anh Hà Sỹ T (là người được Công ty V3).
+ Đối với điện thoại S và 01 cái nón kết thu giữ của V: Đây là tài sản của cá nhân V, không có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh L (là anh ruột của V) để quản lý theo yêu cầu của V.
Về trách nhiệm bồi thường:
+ Anh ruột của bị cáo V là anh Nguyễn Thanh L đã tự nguyện giao nộp số tiền 22.000.000đ để bồi thường thay cho bị cáo. Anh L không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.
+ Bị hại anh Trần Minh T1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường.
+ Đối với số tiền 17.600.000đ là chi phí mà Công ty V2 đã thuê 01 xe ô tô tải khác để vận chuyển hàng hóa sau khi xe của Công ty bị V lấy trộm thì anh Hà S1 Trung đại diện Công ty đã nhận tiền bồi thường xong từ anh Nguyễn Thanh L, nên phía Công ty không có yêu cầu gì thêm.
+ Đối với số tiền 40.000.000₫ mà ông T3 đã trả cho bị cáo V: Ông T3 đã được anh Nguyễn Thanh L hoàn trả 4.400.000đ; H1 cùng với D đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 9.000.000đ để trả lại cho ông T3 xong (có anh Trần Võ Minh Q là con ông T3 đã nhận lại số tiền này). Còn lại số tiền 26.600.000đ thì ông T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
+ Đối với số tiền 10.000.000₫ mà ông T3 cho T2, H2 sau khi mua được chiếc xe ôtô tải biển số 51D-806.57 của V thì T2 và H2 đã trả lại cho ông T3 xong (có anh Trần Võ Minh Q là con ông T3 đã nhận lại số tiền này).
+ Đối với số tiền 60.000.000₫ mà anh C mua xe ô tô tải biển số 51D-806.57 nhãn hiệu ISUZU do ông T3 bán lại. Sau khi anh C giao nộp lại chiếc xe cho Cơ quan điều tra thì anh Trần Võ Minh Q đã trả lại cho anh C số tiền 60.000.000₫ xong.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Đối với Trần Hồng D, Nguyễn Văn H1, Hà Hoàng T2 và Võ Thanh H2 có giới thiệu cho bị cáo V bán chiếc xe ô tô tải biển số 51D-806.57, hiệu ISUZU
5
nhưng không biết chiếc xe của V bán là do V phạm tội mà có nên không xử lý đối với những người này.
+ Đối với ông Trần Văn T3 là người mua chiếc xe ô tô tải biển số 51D-806.57, hiệu ISUZU của V bán nhưng ông T3 không biết chiếc xe này do V phạm tội mà có nên không xử lý đối với ông T3.
+ Đối với Trần Võ Minh Q có chụp ảnh chiếc xe đăng lên Zalo để bán xe, Võ Thành N1 có giới thiệu cho ông T3 bán lại chiếc xe ô tô tải biển số 51D-806.57, hiệu ISUZU cho anh Phạm Văn C nhưng Q, N1 và C không biết chiếc xe của ông T3 bán là do phạm tội mà có, nên không xử lý đối với những người này.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/05/2024.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn giải quyết về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/11/2024, bị cáo Nguyễn Thanh V có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo trình bày như sau:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo V thay đổi nội dung kháng cáo là việc trộm xe của công ty còn có Trần Minh T1 cùng với bị cáo, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo từng là nhân viên của Công ty V2, tuy nhiên do bị cáo đã vi phạm quy định của Công ty nên Công ty đã cho bị cáo thôi việc. Bị cáo biết được Công ty V4 cho anh Trần Minh T1 xe ô tô tải biển số 51D-806.57 quản lý để chở hàng, do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên vào khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024 bị cáo có hành vi lấy trộm xe ô tô tải biển số 51D-806.57 của Công ty G đã giao cho anh T1 để chở hàng, đang đậu tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long đem bán cho ông Trần Văn T3 với giá 40.000.000 đồng. Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL.ĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì chiếc xe ôtô tải biển số 51D-806.57 57 hiệu ISUZU có giá trị là 226.476.000 đồng. Do đó, việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Thanh V
6
phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 08 (tám) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
Đồng thời, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Thanh V trình bày: yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại, vì: việc trộm xe của công ty có sự bàn bạc giữa bị cáo với Trần Minh T1, bị cáo đã hối hận việc đã làm, bị cáo đã tác động bồi thường thiệt hại, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lo cho gia đình.
Bị hại Công ty cổ phần V1 có ông Hà Sỹ T làm đại diện xin vắng mặt, nhưng trong quá trình điều tra đã trình bày: xe thu hồi trả lại cho công ty, gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường thiệt hại xong, nên công ty làm đơn bãi nại và yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V. (BL95, 96).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Minh T1 vắng mặt, tại Cơ quan điều tra anh T1 trình bày: vào khoảng 21 giờ, ngày 21/4/2024 tôi từ nhà ở T đến nơi đậu xe tải biển số 51D- 806.57 tại tổ B M - M - TX B, để lên xe ngủ sáng mai lái xe đi làm, thì phát hiện xe bị mất, nên báo cơ quan chức năng. (BL 1, 121, 123, 125, 128).
Bị cáo Nguyễn Thanh V nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thanh V khai nhận: bị cáo cùng với anh Trần Minh T1 lấy trộm xe ô tô tải mang biển số 51D-806.57 (BL 107, 108) của công ty, rồi điều khiển sang nơi khác; sau đó, bị cáo nhờ người giới thiệu đem xe bán phế liệu cho ông Trần Văn T3 vì xe không có giấy tờ và ông T3 bán lại xe này cho anh Phạm Văn C. Tiếp nhận tin báo của bị hại, cơ quan điều tra xác minh phát hiện và đã thu hồi được tài sản.
7
Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL.ĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì chiếc xe ôtô tải biển số 51D-806.57 hiệu ISUZU có giá trị là 226.476.000đ. Bị cáo thống nhất với kết luận định giá và không có ý kiến khác (BL 113).
Tại cơ quan điều tra bị cáo V khai nhận: thời điểm bị cáo lấy trộm xe lúc anh T1 về nhà ở T (BL 107, 108, 109, 111, 116), xét lời khai này đã phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được, cùng những chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra và qua thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đã đủ cơ sở khách quan để xác định việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Thanh V phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã có hành vi trộm 01 xe ôtô tải mang biển số 51D-806.57, có giá trị là 226.476.000 đồng; như vậy, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; đồng thời, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cho bản thân, thích hưởng thụ, nên thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, đối với bị cáo cũng cần phải xử lý đúng mức, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhằm giáo dục riêng bị cáo trở thành công dân hữu ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Khi quyết định hình phạt Tòa án sơ thẩm đã có xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tố tụng của bị hại chưa đúng, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thể hiện xe ô tô biển số kiểm soát 51D-806.57 do Công ty cổ phần V1 đứng tên chủ sở hữu (BL 04), anh T1 là nhân viên Công ty, được Công ty giao xe để chở hàng; do đó, trong vụ án này, bị hại là Công ty cổ phần V1, anh T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mới chính xác. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần V1 là ông Hà Sỹ T có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng tình tiết này; đồng thời, tài sản đã thu hồi và hoàn trả cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, để chấp nhận kháng cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.
[4] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát, là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận một phần.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh V và sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 2 Điều 53 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 07 (bảy) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
2. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Tân |
Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 17/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
