Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 17/2025/HS-PT

Ngày: 24-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân, bà Trương Thị Lệ Thu.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, do có kháng cáo của các bị cáo Lê Xuân T, Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Xuân T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 10/01/2005, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh;quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Xuân B (Đã chết) và con bà Lê Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam công an tỉnh H. (Có mặt)
  2. Dương An C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 14/9/2004, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Dương Xuân N và con bà Lê Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 29/8/2024 đến nay. (Có mặt)
  3. Phạm Hồng P; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 22/4/2003, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Hoài N1 và con bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 29/8/2024 đến nay. (Có mặt)
  4. Đào Văn T1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 01/7/2002, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh;quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Đào Văn H và con bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 29/8/2024 đến nay. (Có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T: Bà Nguyễn Anh T2 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Dương An C: Bà Nguyễn Thị Phương T3 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

* Người bị hại:

  • Anh Dương Văn L1, sinh năm 2002; nghề nghiệp: Hiện đang chấp hành án tại Tạm giam Công an tỉnh H; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
  • Anh Phạm Quốc Gia Q, sinh năm 2008; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp cho Phạm Quốc Gia Q: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

Trong vụ án này có 01 bị cáo không có kháng cáo; 01 người bào chữa, 01 người đại diện hợp pháp cho bị cáo, 03 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, 07 người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ, ngày 20/8/2024, sau khi ăn uống tại quán P1, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, Lê Xuân T, Dương An C, Đào Văn T1, Phạm Hồng P chuẩn bị ra về thì Hồ Thị Triệu V1 (bạn của T) gọi T sang bàn của V1, T cùng Phạm Hồng P đi sang, còn Dương An C, Đào Văn T1 đi ra khỏi quán. Khi T đang uống bia cùng với Hồ Thị Triệu V1, thì Dương Văn L1, Nguyễn Quốc C1, Võ Mạnh C2 và Lê Nguyễn Thiên V2 (bạn của V1) đến uống cùng. Trong lúc đang uống bia, Dương Văn L1, Nguyễn Quốc C1, Võ Mạnh C2 và Lê Nguyễn Thiên V2 xảy ra mâu thuẫn với Lê Xuân T, dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại thách thức đánh nhau. Lê Nguyễn Thiên V2 và Dương Văn L1 dùng tay, chân đánh và xô đẩy Lê Xuân T nên T bỏ chạy ra ngoài và bảo Dương An C chở T và Phạm Hồng P về phòng trọ của Nguyễn Phạm Minh N2, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K tìm hung khí để quay lại đánh nhau, còn Đào Văn T1 đưa xe mô tô của T đi về. Khi về đến phòng trọ của N2, Dương An C lấy một chiếc gậy Inox bẻ đôi, Phong cầm một đoạn và C cầm một đoạn. Sau khi chuẩn bị xong hung khí, C đi xe mô tô BKS: 38K1-66493 chở T và P quay lại quán P1 để đánh nhau. Trên đường đi gặp Nguyễn Phạm Minh N2, nên T rủ N2 đi đánh nhau với nhóm của Nguyễn Quốc C1 thì N2 đồng ý. N2 đi bộ về phòng trọ của mình lấy xe mô tô chạy theo C, T và P. Khi đi đến ngã ba phường K, thị xã K thấy Đào Văn T1 đang đẩy xe mô tô của T, nên T bảo N2 và T1 đẩy xe về cất tại phòng trọ của N2, còn C tiếp tục chở T và P đi đến quán P1 để nắm tình hình về nhóm của Nguyễn Quốc C1, thấy nhóm của C1 vẫn ngồi trong quán.

Sau khi Đào Văn T1 và Nguyễn Phạm Minh N2 về đến phòng trọ, T1 gọi điện thoại bảo Phạm Hồng P đến đón, T đi xe của C về phòng trọ của N2. Tại phòng trọ, T nói rõ số lượng người bên nhóm của Nguyễn Quốc C1 cho T1 và N2 biết, đồng thời rủ T1 và N2 đi đánh nhau cùng T. N2 đi vào phòng trọ lấy một con dao bầu (dao dài 25 cm, mũi dao sắc nhọn) đưa cho T. Sau đó, T đi xe mô tô chở T1 và N2 đến quán cắt tóc “Dũng B1”. Khi đến nơi thấy Đặng Lê Quang H2 (nhân viên quán cắt tóc) cùng C và P đang đứng trước quán, nên T rủ H2 đi đánh nhau, nhưng H2 từ chối. Dương An C chở N2 và T đi đến quán P1 để đánh nhau; N2 cầm theo 02 đoạn gậy I mà P và C để ở gốc cây gần đó, còn T1 và P thấy H2 ngồi lên xe chuẩn bị đi về nhà và sẽ đi qua quán Phố Nướng nên nhờ H2 chở đi một đoạn thì H2 từ chối, nhưng T1 và P vẫn ngồi lên xe của H2. Đặng Lê Quang H2 yêu cầu T1 và P xuống xe, nhưng T1 và P không chịu xuống, buộc H2 phải chở T1 và P. Khi C, T và N2 đi đến trước cửa nhà hàng Á (cách quán P1 khoảng 400m), thuộc phường K, thị xã K, thì N2 bảo C dừng xe lại. Thấy C dừng xe lại thì Đặng Lê Quang H2 cũng dừng xe lại để cho Phạm Hồng P và Đào Văn T1 xuống xe. Khi dừng xe, N2, T1 và P xin H2 03 chiếc khẩu trang. Khi N2, P và T1 đang đeo khẩu trang, thì Lê Xuân T thấy anh Phạm Quốc Gia Q (nhân viên quán Phố Nướng) đi xe mô tô của Dương Văn L1 đi tới. Do nghĩ rằng anh Q thuộc nhóm của Dương Văn L1, nên Lê Xuân T cầm dao chạy theo đâm một nhát trúng vào lưng của anh Q, thì anh Q bảo nhầm người rồi, nên T dừng lại. Sau khi T đâm anh Q, Dương An C tiếp tục chở T và N2 đi lại quán P1, còn Đặng Lê Quang H2 lên xe để đi về, thì Đào Văn T1 và Phạm Hồng P nhảy lên xe của H2. H2 tiếp tục bảo Toàn và P xuống xe, nhưng T1 và P vẫn không xuống. Khi đến quán P1, Lê Xuân T và Nguyễn Phạm Minh N2 xuống xe đi vào quán, còn C đi xe mô tô chậm lại trước cửa quán để hỗ trợ T và N3. Khi T và N2 đi vào thì thấy Võ Mạnh C2 đang đi trước cửa quán, nên T cầm dao, N2 cầm gậy inox lao vào để đánh Võ Mạnh C2, thì C2 nhặt vỏ chai bia ném về phía T và N2 nhưng không trúng. Ngay lúc đó Đặng Lê Quang H2 vừa đi đến quán P1 và thấy đánh nhau, nên H2 chở cả Đào Văn T1 và Phạm Hồng P bỏ chạy. T và N2 tiếp tục đuổi đánh và ném dao, gậy về phía Võ Mạnh C2, nên C2 bỏ chạy vào trong quán, vừa chạy vừa kêu “có người đánh tao". Nghe C2 gọi nên Dương Văn L1 và Lê Nguyễn Thiên V2 đi ra. Thấy Lê Xuân T nhặt lại dao và đuổi theo Võ Mạnh C2 nên Dương Văn L1 dùng tay ôm T để can ngăn. Khi L1 đang ôm vào người T thì Võ Mạnh C2 lấy gậy Inox (gậy của N2 ném trước đó) đánh một phát trúng vào đầu của T, còn Lê Nguyễn Thiên V2 tiếp tục lấy vỏ chai bia ném trúng vào người của Dương An C, nên C đánh xe bỏ chạy. Do bị L1 ôm chặt và Võ Mạnh C2 đánh vào đầu nên, Lê Xuân T cầm dao vòng ra phía sau lưng đâm 04 nhát vào lưng của Dương Văn L1 rồi bỏ chạy. Khi Lê Xuân T bỏ chạy thì Dương Văn L1 đuổi được khoảng 05m thì bị ngã gục xuống nên Võ Mạnh C2, Lê Nguyễn Thiên V2 và Nguyễn Quốc C1 đưa Dương Văn L1 được đến Bệnh viện đa khoa thị xã K, sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu và điều trị từ ngày 20/8/2024 đến ngày 30/8/2024. Còn Dương An C đi xe mô tô về đến phường K thì gặp Đào Văn T1 và Phạm Hồng P. Biết Dương An C bị thương nên T1 và P đưa C đến Bệnh viện đa khoa thị xã K xử lý vết thương.

Tại bản Kết luận giám định số 259/KLTTCT-TTPY&GĐYK, ngày 26/8/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa, Sở Y1 kết luận: Dương Văn L1 bị các vết thương: Vùng ngực bên phải dưới núm vú phải vết thương kích thước 18cm (còn 18 mũi chỉ khâu). Đường nách trước có 02 vết thương: Vết trên kích thước 1,5cm; vết dưới kích thước 02cm. Đường nách giữa khoang liên sườn IV, V bên phải, vết phẫu thuật dẫn lưu, đường kính 01cm. Gãy cung sau xương sườn số 9 bên trái. Tổn thương màng phổi phải tràn máu, tràn khí màng phổi đã phẫu thuật dẫn lưu. Vùng xương bả vai bên trái vết thương kích thước 05cm. Vùng lưng bên trái 03 vết thương: Vết trên kích thước (05x03)cm; vết giữa kích thước (02x03)cm và vết dưới kích thước (08x0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 19%.

Phạm Quốc Gia Q bị Lê Xuân T đâm bị thương, phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã K kể từ ngày 20/8/2024 đến ngày 21/8/2024. Tại bản Kết luận giám định số 312/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 08/10/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa, Sở Y1, kết luận: Phạm Quốc Gia Q bị vết thương: Vùng giữa cột sống lưng ngang mức D10, sẹo vết thương kích thước (02x01)cm, sẹo liền, màu nâu, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01%. Ngày 09/10/2024, anh Phạm Quốc Gia Q có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Lê Xuân T bị Võ Mạnh C2 đánh bị thương được đưa đi Bệnh viện đa khoa thị xã K khám vết thương. Tại bản Kết luận giám định số 313/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 08/10/2024 của Trung tâm P, kết luận: Lê Xuân T bị vết thương: Góc trán trái sát mép chân tóc, sẹo vết thương kích thước (02x01)cm, sẹo liền, với tỷ lệ thương tích tại thời điểm giám định là 01%. Ngày 08/10/2024, Lê Xuân T đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của Võ Mạnh C2.

Dương An C bị Lê Nguyễn Thiên V2 ném vỏ chai bia bị thương, phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã K kể từ ngày 20/8/2024 đến ngày 26/8/2024. Tại bản Kết luận giám định số 314/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 08/10/2024 của Trung tâm P, kết luận: Dương An C bị vết thương: Mào chậu bên trái, sẹo vết thương kích thước (3,2x01)cm, sẹo liền, màu nâu, với tỷ lệ thương tích tại thời điểm giám định là 02%. Ngày 08/10/2024, Dương An C đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của Lê Nguyễn Thiên V2.

* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu của Lê Xuân T 01 con dao bầu dài 25 cm, cán và lưỡi hình cong, màu nâu, lưỡi dao dài 14 cm, có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao 05cm. Thu giữ của Dương An C chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, số khung: RLCUG1010MY347795, số máy: G3D4E1118833, màu xanh xám đen, BKS: 38K1-664.93. Các vật chứng nêu trên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh. Còn vỏ chai bia và 02 chiếc gậy inox mà Nguyễn Phạm Minh N2 sử dụng để đánh nhau, do quán Phố Nướng đã dọn dẹp hiện trường, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Xuân T, Nguyễn Phạm Minh N2, Đào Văn T1, Phạm Hồng P và Dương An C đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Dương Văn L1 số tiền 120.000.000 đồng theo thỏa thuận, trong đó: Nguyễn Phạm Minh N2, Đào Văn T1, Phạm Hồng P và Dương An C mỗi bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng; Lê Xuân T bồi thường 40.000.000 đồng; Bị hại Phạm Quốc Gia Q và người đại diện là bà Nguyễn Thị Y (mẹ đẻ của Q) yêu cầu Lê Xuân T bồi thường 1.500.000 đồng chi phí điều trị, Lê Xuân T đã tác động gia đình bồi thường đẩy đủ theo yêu cầu.

Tại Bản án sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T, Nguyễn Phạm Minh N2, Dương An C, Phạm Hồng P và Đào Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm o Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 39 (Ba chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/8/2024.
  • Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Minh N2 22 (Hai hai) tháng tù. Căn cứ Khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với hình phạt 13 (Mười ba) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, buộc bị cáo Nguyễn Phạm Minh N2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 35 (Ba mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 23/8/2024.
  • Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s, tiết đầu Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương An C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
  • Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
  • Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn T1 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/12/2024, bị cáo Lê Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 17/12/2024 Phạm Hồng P, Đào Văn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo;

Ngày 19/12/2024 bị cáo Dương An C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo;

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Dương An C đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng:

  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Lê Xuân T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của các bị cáo Đào Văn T1, Dương An C, Phạm Hồng P, sửa bản án sơ thẩm số 64/2024/HSST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo.

Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân T, Đào Văn T1, Dương An C, Phạm Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 20/8/2024); xử phạt bị cáo Dương An C 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm; xử phạt bị cáo Phạm Hồng P 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm; xử phạt bị cáo Đào Văn T1 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng nghị, kháng cáo đúng pháp luật giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Xuân T, Phạm Hồng P, Đào Văn T1, Dương An C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Do mâu thuẫn trong lúc uống bia nên khoảng 00 giờ, ngày 20/8/2024, Lê Xuân T rủ Nguyễn Phạm Minh N2, Đào Văn T1, Phạm Hồng P và Dương An C về nhà trọ của N2 lấy một con dao bầu và 02 đoạn gậy I đi đến quán P1, ở phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để đánh Dương Văn L1, Võ Mạnh C2, Nguyễn Quốc C1 và Lê Nguyễn Thiên V2. Trên đường đi, Lê Xuân T nhầm anh Phạm Quốc Gia Q thuộc nhóm của L1, nên cầm dao chạy theo xe anh Q điều khiển đâm một nhát trúng vào lưng của anh Q, gây thương tích 01%. Sau đó, Lê Xuân T, Nguyễn Phạm Minh N2, Đào Văn T1, Phạm Hồng P và Dương An C tiếp tục đi đến quán P1. T và N2 cầm dao và gậy I vào trong quán để đánh nhau, thì Lê Nguyễn Thiên V2 lấy vỏ chai bia ném trúng người Dương An C gây thương tích 02%. Khi thấy T cầm dao lao vào đánh nhau, Dương Văn L1 ôm người T để can ngăn, thì Võ Mạnh C2 nhặt chiếc gậy I đánh vào đầu T, gây thương tích 01%. Do bị Dương Văn L1 ôm qua người và bị Võ Mạnh C2 đánh nên T cầm dao vòng ra sau lưng đâm 04 nhát vào lưng của Dương Văn L1 gây thương tích 19%. Sau khi bị đánh bị thương, anh Phạm Quốc Gia Q, Dương An C và Lê Xuân T không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

+ Đối với bị cáo Lê Xuân T: Bị cáo là người khởi xướng và là người thực hành tích cực, rủ các bị cáo khác tham gia đánh nhau cùng với T. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tài liệu gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. Vì vậy, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Lê Xuân T là phù hợp, đúng quy định pháp luật, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

+ Đối với các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1: Các bị cáo cáo đã tham gia với vai trò đồng phạm, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo giúp sức, cổ vũ, hỗ trợ về mặt tinh thần để bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội, không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra: Bị cáo Dương An C có Giấy của UBND xã K xác nhận khuyết tật mức độ nặng nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội khuyết tật nặng” quy định tại tiết đầu điểm p Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đào Văn T1 có ông nội là liệt sỹ; bị cáo Phạm Hồng P có ông nội là người có công với cách mạng, ông ngoại là thương binh, bà ngoại được hưởng chính sách như thương binh, là các tình tiết quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1 là phù hợp, đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình giấy xác nhận của chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh khó khăn; các bị cáo Phạm Hồng P, Đào Văn T1 tự nguyện nộp tiền án phí 200.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

[4]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 21, điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T không được chấp nhận, tuy nhiên bị cáo Lê Xuân T thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo Lê Xuân T.
  2. Căn cứ điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 355, e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1, sửa bản án sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1.

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T, Dương An C, Phạm Hồng P và Đào Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/8/2024.
  • Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s, tiết đầu điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương An C 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng P 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 và Khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn T1 13 (Mười ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P và Đào Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 21, điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Lê Xuân T được miễn án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Dương An C, Phạm Hồng P, Đào Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • TA, VKS, THA sơ thẩm;
  • Sở tư pháp Hà Tĩnh;
  • Phòng PV06, cơ quan cảnh sát điều tra CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • Các bị cáo;
  • Lưu HSVA, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 17/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân T + ĐB phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger