Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 28 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hà.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len và bà Hoàng Thị Thu Hiền.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Toà án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
  • Bà Hoàng Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại Thái Bình; nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thanh C1 và bà Nguyễn Thị V; vợ: Triệu Thị T, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 9/2011 đến tháng 01/2013 tham gia nghĩa vụ quân sự; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/9/2024, có mặt.

2.2. Bị hại: Công ty cổ phần B - K.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1982 - Chức vụ: Phó Giám đốc; địa chỉ: Số D Q, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 2.3.1. Anh Tô Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ F, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  • 2.3.2. Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

2

  • 2.3.3. Ông Bùi Văn K, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  • 2.3.4. Chị Phạm Thị Kim D, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  • 2.3.5. Anh Lương Minh S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

2.4. Người làm chứng:

  • 2.4.1. Anh Hà Văn L2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • 2.4.2. Anh Đàm Văn T2, sinh năm 1993;
  • 2.4.3. Anh Phạm Văn K1, sinh năm 1990;
  • Đều cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • 2.4.4. Ông Nguyễn Thanh C1, sinh năm 1970;
  • 2.4.5. Ông Triệu Văn T3, sinh năm 1972;
  • 2.4.6. Anh Vũ Văn K2, sinh năm 1979;
  • 2.4.7. Chị Triệu Thị T, sinh năm 1995;
  • Đều cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • (Anh L2, anh T2, ông C1, anh K1, ông T3, anh K2, chị T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Nguyễn Văn C lái xe cho Công ty cổ phần T7 - Hà Nội, quá trình lái xe cho công ty, biết được Công ty T7 có lấy hàng của Công ty cổ phần B, có địa chỉ tại số D, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội, phân phối cho các đại lý, đồng thời Công nhận thấy mặt hàng bia hơi của Công ty cổ phần B được khách hàng ưa chuộng nên C ký hợp đồng với Công ty T7 để làm nhà phân phối, bán các sản phẩm bia hơi của Công ty cổ phần B - K trên địa bàn huyện T, tỉnh Thái Bình. Trong quá trình kinh doanh, Công nhận bán các loại Keg bia hơi, gồm: Keg bia loại 30 lít, loại 20 lít, loại 2 lít của Công ty cổ phần B thấy các sản phẩm này bán chạy tại thị trường T. Năm 2022, do giá bia nhập của Công ty T7 tăng cao, kinh doanh lợi nhuận thấp nên bị cáo không nhập hàng của Công ty T7 nữa mà nhập bia hơi của đơn vị khác. Do hám lợi, C nảy sinh ý định làm giả sản phẩm bia hơi Hà Nội loại Keg 30 lít của Công ty cổ phần B - K để bán ra thị trường.

3

Để làm giả bia hơi Hà Nội - HABECO là một trong những sản phẩm của Công ty cổ phần B. Tháng 4/2024, thông qua mạng Facebook Công liên hệ với một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) để đặt mua 1500 chiếc nắp chụp Keg bia hơi Hà Nội - HABECO giả, với giá 7.500.000 đồng, giống với nắp chụp của Công ty cổ phần B thật, dùng cho loại bia hơi Keg 30 lít và bị cáo C thu mua được 40 vỏ Keg bia trôi nổi trên thị trường có nhãn hiệu của Công ty cổ phần B loại Keg 30 lít. Sau khi có vỏ Keg bia và nắp chụp giả của bia hơi H - HABECO, C thuê 06 người, gồm: anh Hà Văn L2, ông Nguyễn Thanh C1 (bố đẻ C), ông Triệu Văn T3, anh Phạm Văn K1, anh Đàm Văn T2, anh Vũ Văn K2 để thực hiện sản xuất bia hơi H - HABECO giả như sau:

- Khoảng 16 giờ mỗi ngày, anh Hà Văn L2 đến kho bia của C để nhận xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-373.57, bốc các vỏ Keg bia các loại, trong đó có vỏ Keg bia loại 30 lít của Công ty cổ phần B mua trôi nổi trên thị trường chở sang Công ty cổ phần T8 rượu Nước giải khát Hưng Yên - Hà Nội (trước đây là Công ty B1) mua bia hơi với giá 270.000 đồng/Keg loại 30 lít chở về kho của C ở thôn G, xã T, huyện T. Sau đó, C trực tiếp tháo nắp chụp của các Keg bia rồi sử dụng nắp chụp giả nhãn hiệu của Công ty cổ phần B đóng nắp vào các Keg bia hơi để mang đi tiêu thụ, có lúc C bảo những người làm thuê cho C nếu có nắp Keg bia nào bị vỡ hoặc không có lắp thì lấy nắp chụp của Công ty cổ phần B đóng vào, việc tháo và đóng nắp nhựa đều được thực hiện thủ công bằng tay, không cần dụng cụ hỗ trợ. Những người còn lại, hằng ngày bốc các Keg bia lên xe ô tô và đi giao hàng cho các cửa hàng trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Để tiêu thụ Keg bia hơi giả, C đi chào bán hàng và tự giới thiệu là đại lý được ủy quyền của Công ty cổ phần B bán sản phẩm bia hơi được đóng nắp bia hơi Hà Nội - HABECO và đã bán cho 05 đại lý với giá từ 380.000 đồng đến 450.000 đồng/Keg bia (được chiết khấu 35.000 đồng/Keg bia); cứ bán được 30 K bia hơi Hà Nội - Kim Bài đóng nắp HABECO thì được thưởng 01 Keg bia, C còn cho mỗi đại lý mượn một tủ bảo quản có in chữ Bia hơi Hà Nội. Từ tháng 4/2024 đến ngày 03/9/2024, Nguyễn Văn C đã bán bia giả của Công ty cổ phần B - K, như sau:

  1. Từ ngày 02/4/2024 đến ngày 03/9/2024, C bán cho cửa hàng ông Đ, do anh Tô Văn T1 làm chủ, 322 Keg bia giả của Công ty cổ phần B - Kim Bài loại 30 lít/Keg, thu 122.360.000 đồng, C hưởng lợi 35.420.000 đồng.
  2. Từ ngày 15/4/2024 đến ngày 03/9/2024, C bán cho cửa hàng Hải Đăng, do chị Phạm Thị L1 làm chủ, 165 Keg bia hơi giả của Công ty cổ phần B - Kim

4

Bài loại 30 lít/Keg thu 60.140.000 đồng (chị L1 còn nợ 6.085.000 đồng); C hưởng lợi 14.044.000 đồng.

  1. Từ ngày 19/4/2024 đến ngày 03/9/2024, C bán cho cửa hàng của ông Bùi Văn K 106 Keg bia hơi giả của Công ty cổ phần B - Kim Bài loại 30 lít/keg, thu 41.340.000 đồng, C hưởng lợi 12.720.000 đồng.
  2. Từ ngày 29/4/2024 đến ngày 02/9/2024, C bán cho cửa hàng Chiến Dung, do chị Phạm Thị Kim D làm chủ, 112 Keg bia hơi giả của Công ty cổ phần B - Kim Bài loại 30 lít/keg, thu 45.130.000 đồng, C hưởng lợi 13.343.000 đồng.
  3. Từ ngày 06/4/2024 đến ngày 03/9/2024, C bán cho cửa hàng của anh Lương Minh S 227 Keg bia hơi giả của Công ty cổ phần B - Kim Bài loại 30 lít/keg, thu 94.205.000 đồng, C hưởng lợi 28.218.000 đồng.

Ngày 04/9/2024, Tổ công tác liên ngành Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Cục Quản lý thị trường tỉnh T tiến hành khám xét tại kho bia của C địa chỉ tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và phương tiện 02 xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-887.81 và xe 17C-103.98 trên thùng xe chở bia các loại, C chỉ xuất trình được một số hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc một số Keg bia trong kho, còn một số Keg bia không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. Tổ công tác liên ngành lập biên bản kiểm tra quản lý, thu giữ, gồm: 230 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) màu đỏ có in chữ HABECO còn nguyên vẹn (nắp giả); 09 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) màu đỏ có in chữ HABECO đã bị cạy vỡ (nắp giả); 05 chiếc nhãn nhựa, màu đỏ, có in chữ HIBECO còn nguyên vẹn (nắp giả); 30 nhãn nhựa, màu xanh, màu đỏ có in chữ HIBECO và hình, nắp đã bị vỡ, không còn nguyên vẹn (số lượng 10 chiếc màu xanh và 20 chiếc màu đỏ đều là giả); 03 đầu chụp sang chiết bia hơi bằng kim loại đấu nối với ống nhựa cũ (đã qua sử dụng); 02 ô tô tải biển kiểm soát 29C-887.81 và 17C-103.98; 01 đầu thu Camera, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của C, 01 CPU máy tính để bàn (có in dòng chữ XIGMATEK màu đen), 05 sổ giao nhận hàng mua bán Bia với các cửa hàng; 06 Keg bia thu trong kho của C và thu được 05 Keg bia thành phẩm của các đại lý C đã bán bia.

Trong quá trình điều tra, chị Triệu Thị T (vợ bị cáo C) giao nộp: 01 ô tô biển kiểm soát 15C-373.57 (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15001870 mang tên Nguyễn Đắc T4. Bị cáo Công khai nhận chiếc xe này bị cáo sử dụng để đi giao bia cho các quán bia trên thị trường.

5

Như vậy, từ tháng 4/2024 đến ngày 03/9/2024, Nguyễn Văn C đã sản xuất 900 Keg bia giả loại 30 lít/keg đóng nắp giả của nhãn hiệu bia hơi HÀ NỘI - HABECO của Công ty cổ phần B bán cho 5 cửa hàng nêu trên, với 27.000 lít x 14.256 đồng, trị giá 384.912.000 đồng, bị cáo C thu lợi bất chính 103.745.000 đồng.

Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH 585-24TC/KLGĐ ngày 13/09/2024 của V1 trí tuệ, kết luận: “Sản phẩm bia hơi đựng trong keg M1, X1, X2 (như tại tài liệu 1) và các Keg bia sử dụng nắp N1(như tại tài liệu 2) là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 475367 cho sản phẩm bia thuộc Nhóm 32 của Tổng công ty cổ phần B2 (theo điều 213.2 Luật SHTT)”.

Kết luận định giá số 38/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình kết luận: “01 lít bia hơi Hà Nội - K (LICENSED) thời điểm tháng 4, 5, 6,7,8,9 có giá là 14.256.000 đồng/lít; giá 01 Keg bia Hà Nội - K (LICENSED) loại 30 lít tại thời điểm tháng 4,5,6,7,8,9 năm 2024 có giá là 427.680 đồng”.

Ngày 07/10/2024, Trung tâm K3 chất lượng 1 thuộc Ủy ban tiêu chuẩn đo lường chất lượng Quốc gia có kết quả thử nghiệm 05 mẫu Bia M2HĐ, TT1, L2, M2, DĐ1 được thu giữ tại các điểm bị cáo Công bán. Công văn số 83 ngày 04/11/2024 của Công ty cổ phần B, căn cứ kết quả thử nghiệm, xác nhận toàn bộ số bia hơi thu giữ được đóng nắp HABECO tại nhà Nguyễn Văn C không phải do Công ty cổ phần B sản xuất ra.

Cáo trạng số 18/CT-VKSTB ngày 17/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” quy định tại điểm g, h khoản 2 Điều 193 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Công khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Minh S trình bày: Anh S được bị cáo C giới thiệu là đại lý của Công ty cổ phần B chào bán bia của Công ty. Anh S không biết đó là các Keg bia giả bia của Công ty cổ phần B - K. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ tại cửa hàng 02 keg bia giả, nên anh S yêu cầu bị cáo C phải bồi thường giá trị 02 keg bia giả anh đã bị thu là 830.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo C đồng ý thanh toán cho anh S giá trị của 02 Keg bia anh S bị tịch thu là 830.000 đồng.

6

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”.
  • * Áp dụng điểm g, h khoản 2, khoản 5 Điều 193; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng - 30.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn C đã nộp số tiền thu lời bất chính 103.745.000 đồng nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải thanh toán cho anh Lê Minh S1 giá trị 02 Keg bia giả là 830.000 đồng.
  • * Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 06 K bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại Keg 30 lít thành phẩm thu giữ tại các cửa hàng (gồm của chị Phạm Thị L1 02 Keg; anh Lương Minh S 02 Keg; ông Bùi Văn K 01 Keg; anh Tô Văn T1 01 Keg); 06 Keg bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại Keg 30 lít giả thành phẩm thu giữ tại kho hàng của C (gồm: 04 Keg bia hơi Hà Nội LICENSED; 01 Keg bia tươi HKBECO (special), 01 Keg bia hơi JSC); 230 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) giả màu đỏ có in chữ HABECO còn nguyên vẹn; 09 chiếc nhãn nhựa màu đỏ (nắp chụp hình tròn) có in chữ HABECO đã bị cạy vỡ; 05 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn), màu đỏ, có in chữ HIBECO (chưa qua sử dụng); 30 nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) màu xanh, màu đỏ có in chữ HIBECO, nắp đã bị vỡ, không còn nguyên vẹn (số lượng 10 chiếc màu xanh và 20 chiếc màu đỏ);
    • + Trả lại bị cáo gồm: 03 đầu chụp sang chiết bia hơi bằng kim loại đấu nối với ống dẫn bia (đã qua sử dụng); 01 đầu thu Camera nhãn hiệu DAHUA (đã qua sử dụng); 01 CPU máy tính để bàn, có in dòng chữ XIGMATEK màu đen (đã qua sử dụng);
    • + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi quản lý của Nguyễn Văn C (đã qua sử dụng); 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-887.81 (đã qua sử dụng), 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 460556 mang tên hộ kinh doanh vận tải Nguyễn Văn C; giấy chứng nhận kiểm định số 1369812 và 01 chìa khóa xe; 01 ô tô biển kiểm soát 15C-373.57 (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15001870 mang tên Nguyễn Đắc T4).

7

Bị cáo tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin lại 02 chiếc xe ô tô vì bị cáo mua 02 chiếc xe này trước khi phạm tội. Đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo còn sớm trở về với gia đình, xã hội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được trở lại làm công dân có ích cho xã hội và làm việc để nuôi các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn C do hám lợi nên đã nảy sinh ý định làm giả sản phẩm bia hơi Hà Nội loại Keg 30 lít của Công ty cổ phần B - K để bán ra thị trường. Để làm giả bia hơi, C đặt mua 1500 chiếc nắp chụp Keg bia hơi Hà Nội - HABECO giả và thu mua được 40 vỏ Keg bia trôi nổi trên thị trường. Sau đó, C đã thuê 06 người để thực hiện việc làm giả bia hơi Hà Nội bằng hình thức mua bia hơi của Công ty cổ phần T8 rượu nước giải khát Hưng Yên - Hà Nội đựng vào các Keg bia 30 lít của Công ty cổ phần B - K, sau đó dập nắp chụp giả vào và mang đi tiêu thụ. Để tiêu thụ Keg bia hơi giả, C đi chào bán hàng và tự giới thiệu là đại lý được ủy quyền của Công ty cổ phần B bán sản phẩm bia hơi được đóng nắp bia hơi Hà Nội - HABECO và đã bán cho 05 đại lý với tổng giá trị là 384.912.000 đồng và thu lợi bất chính 103.745.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”. Hành vi của bị cáo là

8

rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất sự ổn định của thị trường, xâm hại lợi ích của người tiêu dùng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Điều 193 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ... g) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; h) T5 lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Như vậy, bị cáo đã sản xuất, buôn bán thực phẩm giả với tổng giá trị là 384.912.000 đồng và thu lời bất chính 103.745.000 đồng nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo điểm g, h khoản 2 Điều 193 Bộ luật Hình sự.

[3] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia Q; bị cáo tự nguyện khắc phục số tiền thu lời bất chính 103.745.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời cũng để cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với người lần đầu phạm tội, biết ăn năn hối cải.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn C tự nguyện nộp 103.745.000 đồng, đây là tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo Nguyễn Văn C tự nguyện bồi thường cho anh Lương Minh S giá trị 02 Keg bia giả mà anh S bị cơ quan điều tra thu giữ là 830.000 đồng nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo C.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 06 K bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại

9

Keg 30 lít thành phẩm thu giữ các cửa hàng (gồm của chị Phạm Thị L1 02 Keg; anh Lương Minh S 02 Keg; ông Bùi Văn K 01 Keg; anh Tô Văn T1 01 Keg); 06 Keg bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại Keg 30 lít giả thành phầm thu giữ tại kho hàng của C (gồm: 04 Keg bia hơi Hà Nội LICENSED; 01 Keg bia tươi HKBECO (special), 01 Keg bia hơi JSC); 230 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) giả màu đỏ có in chữ HABECO còn nguyên vẹn; 09 chiếc nhãn nhựa màu đỏ (nắp chụp hình tròn) có in chữ HABECO đã bị cạy vỡ; 05 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn), màu đỏ, có in chữ HIBECO (chưa qua sử dụng); 30 nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) màu xanh, màu đỏ có in chữ HIBECO, nắp đã bị vỡ, không còn nguyên vẹn (số lượng 10 chiếc màu xanh và 20 chiếc màu đỏ) là những vật chứng xác định là giả, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 03 đầu chụp sang chiết bia hơi bằng kim loại đấu nối với ống dẫn bia (đã qua sử dụng); 01 CPU máy tính để bàn, có in dòng chữ XIGMATEK màu đen (đã qua sử dụng); 01 đầu thu Camera nhãn hiệu DAHUA (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo công, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi quản lý của Nguyễn Văn C (đã qua sử dụng); 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-887.81 (đã qua sử dụng), số máy D4BHG019361, số khung RM0TE17HLHC000205, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 460556 mang tên hộ kinh doanh vận tải Nguyễn Văn C, giấy chứng nhận kiểm định số 1369812 và 01 chìa khóa xe; 01 ô tô biển kiểm soát 15C-373.57 (đã qua sử dụng), số máy D4DBFJ615520, số khung RNHA999AKGC003539, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15001870 mang tên Nguyễn Đắc T4, quản lý của chị Triệu Thị T (vợ C giao nộp) là những vật chứng bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện để phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:

  • [6.1] Đối với người bán cho C 1500 chiếc nắp chụp Keg bia Hà Nội - HABECO giả, Công khai mua của người đàn ông qua mạng xã hội Facebook, không biết tên tuổi, địa chỉ của người này và không nhớ tên tài khoản Facebook đã liên lạc để mua nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
  • [6.2] Đối với những người làm thuê cho C, gồm: anh Hà Văn L2, ông Nguyễn Thanh C1, ông Triệu Văn T3, anh Phạm Văn K1, anh Đàm Văn T2, Vũ Văn K2 những người này không được C bàn bạc, không biết C làm giả bia của

10

Công ty cổ phần B - K và không được hưởng lợi nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

  • [6.3] Đối với chị Triệu Thị T được nhờ giúp thống kê sổ giao nhận hàng với các cửa hàng bán bia để thu tiền và phát tiền lương cho công nhân khi C đi vắng, chị T không được bàn bạc, không biết C làm giả bia của Công ty cổ phần B - Kim Bài nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
  • [6.4] Đối với 05 chủ cửa hàng, gồm: Anh Tô Văn T1, chị Phạm Thị L1, ông Bùi Văn K, chị Phạm Thị Kim D, anh Lương Minh S mua bia hơi giả của C về bán không biết và không được C nói cho biết bia Hà Nội - HABECO của Công ty cổ phần B là giả nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
  • [6.5] Đối với đơn vị bán bia cho C là Công ty cổ phần T8 rượu nước giải khát Hưng Yên - Hà Nội, địa chỉ khu công nghiệp P, thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên do C lấy bia chủ yếu vào ban đêm, số lượng Keg bia nhiều và mẫu mã các Keg bia có đặc điểm gần giống nhau nên nhân viên đóng bia không phát hiện được nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
  • [6.6] Đối với xe ô tô biển kiểm soát 17C-103.98 (đã qua sử dụng), giấy đăng ký xe cấp ngày 05/4/2018, mang tên anh Phạm Bá T6, sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bỉnh. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên chủ sở hữu anh Phạm Bá T6 do C thuê của anh T6 nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho chủ sở hữu là đúng quy định.
  • [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g, h khoản 2, khoản 5 Điều 193; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/9/2024.
  3. Phạt tiền bị cáo 20.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 103.745.000 đồng tiền bị cáo Nguyễn Văn C thu lợi bất chính. Bị cáo Nguyễn

11

Văn C có trách nhiệm bồi thường cho anh Lương Minh S giá trị 02 Keg bia giả anh S bị thu giữ là 830.000 đồng.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
    • 4.1. Tịch thu tiêu huỷ: 06 K bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại Keg 30 lít thành phẩm thu giữ các cửa hàng (gồm của bà Phạm Thị L1 02 Keg; ông Lương Minh S 02 Keg; ông Bùi Văn K 01 Keg; ông Tô Văn T1 01 Keg); 06 Keg bia hơi Hà Nội - Kim Bài giả loại Keg 30 lít giả thành phẩm thu giữ tại kho hàng của C (gồm: 04 Keg bia hơi Hà Nội LICENSED; 01 Keg bia tươi HKBECO (special), 01 Keg bia hơi JSC); 230 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) giả màu đỏ có in chữ HABECO còn nguyên vẹn; 09 chiếc nhãn nhựa màu đỏ (nắp chụp hình tròn) có in chữ HABECO đã bị cạy vỡ; 05 chiếc nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn), màu đỏ, có in chữ HIBECO (chưa qua sử dụng); 30 nhãn nhựa (nắp chụp hình tròn) màu xanh, màu đỏ có in chữ HIBECO, nắp đã bị vỡ, không còn nguyên vẹn (số lượng 10 chiếc màu xanh và 20 chiếc màu đỏ);
    • 4.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi quản lý của Nguyễn Văn C (đã qua sử dụng); 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-887.81 (đã qua sử dụng), số máy D4BHG019361, số khung RM0TE 17HLHC000205, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 460556 mang tên hộ kinh doanh vận tải Nguyễn Văn C, giấy chứng nhận kiểm định số 1369812 và 01 chìa khóa xe; 01 ô tô biển kiểm soát 15C-373.57 (đã qua sử dụng), số máy D4DBFJ615520, số khung RNHA999AKGC003539, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15001870 mang tên Nguyễn Đắc T4.
    • 4.3. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn C 03 đầu chụp sang chiết bia hơi bằng kim loại đấu nối với ống dẫn bia (đã qua sử dụng); 01 đầu thu Camera nhãn hiệu DAHUA (đã qua sử dụng); 01 CPU máy tính để bàn, có in dòng chữ XIGMATEK màu đen (đã qua sử dụng).

    Các vật chứng này có đặc điểm mô tả chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng và đã được chuyển đến Cục thi hành án tỉnh Thái Bình theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSTB ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.

  2. 5. Án phí: Áp dụng các Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

12

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/02/2025. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/02/2025. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Hà

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN CÔNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger