|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày 27 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Công Trường
2. Bà Lê Thị Dệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HSST-QĐ ngày 14/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Văn H, sinh ngày 08/8/1983 tại xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn Y, xã M, huyện N, Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khả V, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lê Thị K, sinh năm: 1957; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Ngô Thị H1, sinh năm 1987 và 03 con; con lớn sinh năm 2008; con nhỏ nhất sinh năm 2023
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 15/3/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
- Ngày 21/9/2020 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 25/10/2024, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N; có mặt.
2. Họ và tên: Lê Đình T, sinh ngày 25/11/1980 tại xã H, Tp ., tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn P, xã P, huyện N, Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình K1, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1952; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 2; có vợ là Đỗ Thị L1, sinh năm 1982 và 02 con; con lớn sinh năm 2002; con thứ 2 sinh năm 2009
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 25/10/2024, ngày 02/11/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Bà Nguyễn Thị Nữ H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
* Bị hại: Xí nghiệp xây dựng và bảo vệ đường bộ VidiJi
Địa chỉ: K+C đường P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tiến N - Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Văn H3, sinh năm 1963
Địa chỉ: D, D, G, Hà Nội. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Thị H1, sn 1987
Địa chỉ: Thôn Y, xã M, huyện N (có mặt)
Người làm chứng:
- Anh Lê Quang T1, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện N (vắng mặt)
- Chị Lê Thị H4, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện N (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 24/10/2024, tại Km số 356+950 đến Km số 357+00, Cao tốc B thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh Chu Văn H5, sinh năm 1963 trú tại xã D, huyện G, thành phố Hà Nội là cán bộ Xí nghiệp xây dựng và bảo trì đường bộ V1 (Đơn vị quản lý tuyến đường C thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa) phát hiện bị mất trộm 15 (mười lăm) tấm hàng rào chắn đường cao tốc, kích thước (2,75 x 1,5)m và 14 (mười bốn) cột thép, đường kính 06cm, nên đã trình báo Công an xã C, huyện N. Sau khi tiếp nhận nội dung vụ việc, Công an xã C đã tiến hành xác minh vụ việc, xác định hiện trường và báo cáo Công an huyện N điều tra, xử lý theo quy định. Đến chiều ngày 25/10/2024, Lê Văn H và Lê Đình T đến Công an huyện N đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn H tại thôn Y, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave anpha, màu sơn đỏ đen, BKS: 36B8-089.85, kèm theo 01 (một) xe kéo tự chế có khung bằng kim loại, có kích thước (210 x110)cm; trên thùng xe kéo có 01 (một) chiếc bạt màu xanh; 01 (một) dây chun cao su màu đen; 01 (một) áo chống nắng màu sọc đen; 01 (một) túi vải, màu đen bên trong có: 02 (hai) cờ lê 19, 01(một) cờ lê 13, 01 (một) cờ lê 12, 01 (một) cờ lê 11, 01 (một) cờ lê 9, 01 (một) cờ lê 8, 01 (một) kìm cách điện và 14 (mười bốn) cọc thép thu giữ trong chuồng gà nhà Lê Văn H.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đình T tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu nào khác liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra Lê Văn H và Lê Đình T khai nhận: Chiều ngày 20/10/2024, Lê Văn H đến điểm thu mua phế liệu của Lê Đình T ở thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa chơi, T có nói với H “Chú có kiếm được lưới B40 thì kiếm cho anh mấy tấm”, H bảo “Lưới B40 thì có, nhưng là hàng cấm anh có giữ kín được cho em thì em mới dám lấy”. T nói “Chú cứ kiếm được đi, không phải lo".
Sau đó chiều ngày 22/10/2024, H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave A pha, màu sơn đỏ đen bạc, BKS: 36B8-089.85, đến địa bàn huyện N với mục đích tìm đoạn đường cao tốc có rào chắn dễ trộm cắp. (người đứng tên trong đăng ký xe mô tô là Ngô Thị H1, sinh năm 1987 vợ của H). Khi đi đến khu vực hầm chui thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, H rẽ ra khu vực cánh đồng, thấy đường cụt, vắng người qua lại nên H đi lại để quan sát, xác định vị trí. H về nhà chuẩn bị công cụ, phương tiện gồm: Xe kéo, kìm cách điện cờ lê các cở, dây chun, bạt che phủ và tiến hành thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tấm rào chắn và cột sắt của hàng rào đường cao tốc rồi mang bán tấm rào chắn cho Lê Đình T như sau:
- Hành vi thứ nhất: Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 23/10/2024, H mặc áo chống nắng có sọc ka rô, đội mũ bảo hiểm màu đen, điều khiển xe mô tô có gắn xe kéo phía sau và mang theo các công cụ đã chuẩn bị sẵn đi từ nhà ở thôn Y, xã M, huyện N đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện N (vị trí H đã đến xem xét trước đó). H dùng 02 cờ lê loại 19 để vặn tháo rời 07 tấm hàng rào chắn loại thép B40 có khung bằng sắt, kích thước (2,75x1,5)m và 07 trụ cột sắt hình tròn dài 1,5m, đường kính 06cm. Sau đó H đưa các tấm rào chắn và cột sắt để lên xe kéo, buộc chặt, che phủ kín bạt đã chuẩn bị sẵn rồi điều khiển xe đi về bãi phế liệu của Lê Đình T và gọi T để bán 07 tấm rào chắn với giá 320.000 đồng/01 tấm. T đã thanh toán cho H 2.240.000 đồng. Sau khi nhận tiền H chở 07 trụ cột sắt về giấu trong chuồng gà của gia đình.
- Hành vi thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 24/10/2024, H tiếp tục điều khiển xe mô tô gắn xe kéo phía sau, mang theo cờ lê và các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn đi đến vị trí H đã trộm cắp các tấm rào chắn ngày 23/10/2024. Tại đây, H tiếp tục dùng 02 chiếc cờ lê 19 để tháo các vị trí hàng rào chắn tiếp theo. Sau khi tháo được 08 tấm rào chắn và 07 trụ cột sắt, H khiêng lên xe rồi đi về bãi thu mua phế liệu của Lê Đình T. H bán cho T 08 tấm rào chắn giá 320.000 đồng/tấm, được tổng số tiền 2.560.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H mang 07 trụ cột bằng sắt còn lại về nhà và cất giấu trong chuồng gà của gia đình.
Số tấm rào chắn trên T bán cùng sắt phế liệu khác cho Lê Quang T1 và chị Lê Thị H4, trú tại thôn G, xã T, huyện N với giá 8.600 đồng/01kg. Hiện thu giữ và đã trả cho bị hại.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1586/KLĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N, kết luận: 15 (mười lăm) tấm hàng rào chắn loại thép B40 mỗi tấm kích thước 150cm x 275cm, có khung được làm bằng ống thép loại D50x3mm, bàn giao sử dụng ngày 20/8/2024 có giá trị trên thị trường tại thời điểm bị trộm cắp là 16.425.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng). 14 (mười bốn) cột hàng rào thép loại D60x3mm, mỗi cột kích thước dài 150cm, bàn giao sử dụng ngày 20/8/2024, có giá trên thị trường tại thời điểm bị trộm cắp là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 19.925.000đ (Mười chín triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng)
* Lê Quang T1 và Lê Thị H4 làm nghề thu mua phế liệu, không biết các tấm rào chắn là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại 15 (mười lăm) tấm rào chắn, loại thép B40, kích thước mỗi tấm (2,75 x 1,5)m, khung bằng ống thép tròn loại D50x3mm và 14 (mười bốn) cột hàng rào thép loại D60x3mm, mỗi cột cao 1,5m. Đối với các vật chứng còn lại gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave anpha, màu sơn đỏ đen, BKS: 36B8-089.85; 01 (một) xe kéo tự chế có khung bằng kim loại, có kích thước (210 x110)cm; 01 (một) chiếc bạt màu xanh; 01 (một) dây chun màu đen; 01 (một) áo chống nắng màu sọc đen và 01 (một) túi vải màu đen bên trong có: 02 (hai) cờ lê 19; 01 (một) cờ lê 13; 01 (một) cờ lê 12; 01 (một) cờ lê 11; 01 (một) cờ lê 9; 01 (một) cờ lê 8; 01 (một) kìm cách điện, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống.
Số tiền 4.800.000 đồng do H bán 15 tấm rào chắn cho Toàn H6 khai nhận đã tiêu sài cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại yêu cầu H6 và T phải bồi thường 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Ngày 20/12/2024. T và H6 đã thực hiện xong. Đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Lê Đình T đã tự nguyện trả lại cho anh T1 5.160.000 đồng từ việc mua phế liệu. Anh T1 nhận lại tiền và không đề nghị gì thêm.
- Số tiền 4.800.000đ H6 nhận từ T, H6 đã chi tiêu cá nhân hết. T không yêu cầu H6 phải hoàn trả.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSNC ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Lê Văn H và Lê Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS, đối với Lê Văn H xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 BLHS, đối với Lê Đình T xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; số tiền 4.800.000đ H nhận từ T, T không yêu cầu H trả lại nên không xem xét; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave anpha, màu sơn đỏ đen, BKS: 36B8-089.85 và 01 (một) xe kéo tự chế, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng; miễn án phí HSST cho bị cáo H, bị cáo T phải chịu án phí HSST.
Các bị cáo nhận tội, không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện VKS.
Người bào chữa cho bị cáo H đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án từ 15 đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung và án phí HSST cho bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra đã được định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở chứng minh:
Hành vi thứ nhất: Do có trao đổi từ trước giữa Lê Văn H và Lê Đình T nên khoảng 01 giờ 10 phút ngày 23/10/2024 tại khu vực hầm chui thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa Lê Văn H có hành vi lén lút, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave A pha, màu sơn đỏ đen, BKS: 36B8-089.85 có gắn xe kéo phía sau và các công cụ khác thực hiện hành vi trộm cắp 07 tấm rào chắn loại thép B40 có khung bằng sắt, kích thước (2,75x1,5)m và 07 trụ cột sắt hình tròn dài 1,5m, đường kính 06cm của Xí nghiệp V1 (Đơn vị quản lý tuyến đường C thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo đã bán 07 tấm rào chắn cho Lê Đình T lấy 2.240.000 đồng tiêu xài cá nhân. 07 trụ cột sắt còn lại mang về nhà và giấu đã bị thu giữ.
Hành vi thứ hai: Cũng do có trao đổi từ trước giữa Lê Văn H và Lê Đình T nên Khoảng 01 giờ ngày 24/10/2024, H tiếp tục điều khiển xe mô tô gắn xe kéo phía sau, mang theo cờ lê và các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn đi đến vị trí H đã trộm cắp các tấm rào chắn ngày 23/10/2024 dùng cờ lê 19 để tháo 08 tấm rào chắn và 07 trụ cột sắt. 08 tấm rào chắn bán cho Lê Đình T được 2.560.000 đồng. 07 trụ cột bằng sắt còn lại về nhà cất giấu.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu giữ được 15 (mười lăm) tấm rào chắn, kích thước (2,75 x 1,5)m, khung bằng thép tròn, ở giữa là lưới B40 trả lại cho bị hại.
Giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 19.925.000đ thuộc định lượng quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục các bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Đánh giá vai trò đồng phạm: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn có thông mưu trước. Bị cáo H vai trò chính, bị cáo T tuy không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng là người giúp sức cho bị cáo H và trực tiếp tiêu thụ tài sản trộm cắp nên phải chịu trách nhiệm hình sự cùng tội danh với bị cáo H là phù hợp với quy định tại Điều 17 và Điều 58 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo: Cả hai bị cáo có chung tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ cả 02 bị cáo có chung các tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Về nhân thân: Bị cáo H là người có nhân thân xấu. Bị cáo T không tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo; HĐXX thấy cần cách ly bị cáo Lê Văn H khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với quy định của Điều 38 BLHS. Bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nên xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét. Số tiền 4.800.000₫ H nhận từ T, T không yêu cầu H trả lại nên HĐXX không xem xét.
[8] Về Vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda và 01 (một) xe kéo tự chế, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng.
[10] Về án phí:
Bị cáo H thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí. Bị cáo T phải chịu phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 BLHS tuyên bố các bị cáo Lê Văn H và Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lê Văn H.
Xử phạt Lê Văn H 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (25/10/2024). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với Lê Đình T.
Xử phạt Lê Đình T 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/3/2025). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Giao bị cáo Lê Đình T cho UBND xã P, huyện N, Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu sơn đỏ đen, BKS: 36B8-089.85 và 01 (một) xe kéo tự chế bằng kim loại; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại không còn giá trị sử dụng (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Miễn án phí HSST cho bị cáo H; bị cáo Toàn phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Quyền kháng cáo: Án sử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; vắng mặt bị hại. Các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (đối với những nội dung có liên quan trong vụ án) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tình |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H trộm cắp tài sản
