|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 26/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Quỳnh Nga – Giáo viên hưu trí
Ông Lê Văn Công – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/3/2008 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi thường trú: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Lý (chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/11/2024. (Có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1977, là mẹ ruột bị cáo; Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình. (Vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Văn H1 – Luật sư, Cộng tác viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)
2. Bị hại:
- Chị Bùi Xuân T2, sinh năm 1980; Nơi thường trú: Số C, T, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ liên hệ: Quán P N, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1990; Nơi thường trú: Số A N, khu phố E, phường P (nay là phường P), thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Anh Võ Thanh B, sinh năm 2007; Nơi thường trú: Tổ A, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Mai Hồng P, sinh ngày 18/8/2010; Nơi thường trú: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, nên Nguyễn Văn H2 cùng bạn là Mai Hồng P1 nhau đi tìm tài sản trộm cắp. Vào khoảng 23 giờ ngày 04/9/2024, H2 cùng P đi vào quán cà phê RUBIKOI tại số A N, khu phố E, phường P (nay là phường P), thành phố B do chị Nguyễn Thị Lệ Q1 chủ để tìm tài sản. Do quán không có cổng rào nên cả hai đi vào bên trong và đến quầy thu ngân của quán tìm tài sản thì lấy được 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S màu xanh, đã qua sử dụng của anh Võ Thanh B (là nhân viên bảo vệ đang ngủ) và 01 đồng hồ điện tử loại cảm ứng, hình vuông, màu vàng, dây đeo bằng cao su màu hồng, đã qua sử dụng, không hoạt động được của khách bỏ quên tại quán.
Sau khi lấy trộm được số tài sản trên H2 và P tiếp tục đi bộ đến quán cà phê PENCOCK do chị Bùi Xuân T2 làm chủ để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 20 phút cả hai đến quán, do quán đóng cửa nên H2 và P trèo qua khung sắt lên tầng 2 và mở cửa bên hông của ban công tầng 2 để vào bên trong (do cửa không khóa), tiến hành lục soát và lấy được số tiền 2.670.000 đồng, 08 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 đô la, 02 tờ tiền đô la Singapore mệnh giá 02 đô la và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S A037 blue, đã qua sử dụng của chị T2 để trong hộc tủ tại quầy lễ tân. Sau đó, H2 và P bắt xe lên thành phố Hồ Chí Minh và bán chiếc điện thoại (của anh B) cho một cửa hàng điện thoại (không rõ tên, vị trí) được 300.000 đồng và tiêu xài hết.
Đến ngày 08/9/2024, H2 và P tiếp tục xuống thành phố B để tìm tài sản trộm cắp nhưng khi cả hai đang đi thì bị lực lượng Công an phường P mời về làm việc. Tại đây, H2 đã đầu thú và giao nộp 08 tờ đô la Mỹ (loại 01USD), 02 tờ đô la Singapore (loại 02 SGD) và 01 điện thoại di động điện tử loại cảm ứng dây màu hồng, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 216/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Đối với 01 đồng hồ điện tử loại cảm ứng, hình vuông, màu vàng, dây đeo bằng cao su màu hồng, đã qua sử dụng, từ chối định giá do không có hóa đơn chứng từ và các điều kiện định giá.
- Đối với tài sản định giá được: 01 (Một) điện thoại di động hiệu S A30, màu đen (của chị Q) trị giá là 1.666.000 đồng. 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21S, màu xanh (của anh B) trị giá là 1.633.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tổng giá trị thiệt hại là 1.171.290 đồng, trong đó: 08 USD đô la Mỹ là 196.613 đồng; 04 đô la Singapore (SGD) là 74.677 đồng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S A037 Blue là 900.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 7121 /KLGDĐT - C09B ngày 22/12/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh (C09B) giám định tuổi đối với Nguyễn Văn H xác định: Tại thời điểm giám định H có độ tuổi thấp nhất là 16 tuổi 4 tháng đến 16 tuổi 10 tháng. (BL.52-53).
Về thu giữ và xử lý vật chứng: 08 tờ tiền mệnh giá 01 đô la Mỹ, 02 tờ tiền mệnh giá 2 đô la Singapore, ngày 22/11/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Bùi Xuân T2. (BL 54-55). Đối với 01 đồng hồ điện tử cảm ứng hiện đã chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự bảo quản, chờ xử lý.
+ Những tài sản không thu hồi được gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S (đã vứt bỏ sau khi lấy); 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03S A037 thì H đã bán tại TP. Hồ Chí Minh.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Xuân T2 không yêu cầu H, P bồi thường và bãi nại đối với H. (BL.125). Chị Nguyễn Thị Lệ Q yêu cầu H, P bồi thường giá trị 01 điện thoại di động Samsung A30 là 1.666.000 đồng và số tiền 20.000 đồng, tổng cộng là 1.686.000 đồng. Anh Võ Thanh B yêu cầu H, P bồi thường giá trị 01 điện thoại di động Vivo Y21S là 1.633.000 đồng. (BL: 138-139, 148-149).
Quá trình điều tra xác định: Mai Hồng P có tham gia cùng bị cáo H, nhưng tại thời điểm phạm tội thì P chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPBR ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Văn H3 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 09 đến 12 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đồng hồ điện tử cảm ứng, đã hư hỏng; Về bồi thường thiệt hại: Hiện nay chỉ có bị hại là chị Q và anh B có yêu cầu bồi thường giá trị các tài sản bị mất theo giá trị định giá, tại phiên tòa bị cáo H và người bào chữa cho bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu trên và cũng tại phiên tòa đã tiến hành bồi thường xong cho anh B, anh B nhận tiền và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo H: Đồng ý về tội danh truy tố đối với bị cáo H, tuy nhiên về mức hình phạt luật sư cho rằng còn nghiêm khắc, bị cáo H khi phạm tội là người chưa thành niên và phạm tội do nhất thời bộc phát, bị cáo có hoàn cảnh gia đình neo đơn, cha mất sớm nên sống trong sự thiếu thốn tình cảm và sự giáo dục của gia đình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bản thân rất ăn năn hối cải, ra đầu thú và hợp tác với Cơ quan điều tra; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hậu quả gây ra không lớn; bị cáo đã bị tạm giam một thời gian, tại phiên tòa bị cáo đã tác động và bồi thường xong cho anh B, đồng ý bồi thường cho chị Q và bị hại đã bãi nại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, i, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Bị hại Võ Thanh B đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư và không có ý kiến gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại thành phố B:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ ngày 04/9/2024, tại quán C1 (Số A N, phường P), Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị Lệ Q 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu đen, trị giá 1.666.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S màu xanh, của anh Võ Thanh B, trị giá 1.633.000 đồng. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của chị Q và anh B là 3.319.000 đồng.
Vụ thứ hai: Sau khi thực hiện hành vi trên thì bị cáo tiếp tục di chuyển và tìm tài sản để trộm cắp, vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 05/9/2024 bị cáo đi đến quán C2 (Số B N, khu phố B, phường P) và lén lút lấy trộm số tiền 2.670.000 đồng, 08 tờ tiền đô la M (mệnh giá 01 đô la) trị giá 196.613 đồng, 02 tờ tiền đô la Singapore (mệnh giá 02 đô la) trị giá 74.677 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S A037 blue trị giá 900.000 đồng của chị Bùi Xuân T2. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm đoạt của chị T2 là 3.841.290 đồng.
Hành vi của các bị cáo H5 hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo còn trẻ tuổi, nhưng không nghề nghiệp vì nhu cầu cá nhân và lòng tham đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, thực hiện hành vi đột nhập nơi ở vào ban đêm gây tâm lý bất an trong nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm của bị cáo cần phải có một hình phạt tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và giáo dục cảnh tỉnh với người phạm tội khác.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi “Phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội trong độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, từ khi phạm tội đến phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi đã đến cơ quan Công an “đầu thú”; một số tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại (bà Bùi Xuân T2) và được bà T2 bãi nại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với tài sản không thu hồi được thì bị hại là chị Q, anh B có yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo H đã bồi thường xong cho anh B và đồng ý bồi thường chị Q. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị cáo H đã bồi thường xong cho anh B; đồng ý bồi thường cho bà Q là 1.686.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc bồi thường của bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu nên đã giải quyết xong; Đối với 01 đồng hồ điện tử cảm ứng, đã hư hỏng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H6 tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 tháng tù (Tám tháng tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/11/2024. - Về bồi thường thiệt hại:
- - Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị Lệ Quyên số tiền 1.686.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải thanh toán thêm số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đồng hồ điện tử loại cảm ứng, hình vuông, màu vàng dây đeo bằng cao su màu hồng.
(Vật chứng nêu trên lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 37 ngày 22/01/2025). - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hùng nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. - Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Anh |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp tài sản
