|
TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện P THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 23-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Thế Vinh.
- Ông Võ Nguyên Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hồ Văn M, sinh ngày 27/02/1985 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T (đã chết) và bà Trần Thị T1; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Văn D, sinh ngày 01/01/1947 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Nuôi trồng thủy sản; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X (đã chết) và bà Văn Thị L (đã chết); vợ: Hà Thị C (đã chết); con: có 07 con, lớn nhất đã chết, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Năm 1990, bị cáo bị tuyên 18 tháng tù về tội "Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài", phải chịu 15.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.000 đồng án phí phúc thẩm hình sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 84/HSST ngày 11/8/1990 của Tòà án nhân dân tỉnh T (nay là thành phố H) và Bản án phúc thẩm hình sự số 300 ngày 26/9/1990 của Tòa phúc thẩm Tòà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Ngày 02/9/1992, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và về địa phương. Về việc chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm hình sự, tại Công văn số 59 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P và Công văn số 1724 ngày 26/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Huế có văn bản trả lời đã tiến hành kiểm tra, rà soát hồ sơ thi hành án dân sự được lưu trữ nhưng không có thông tin và kết quả thi hành án dân sự đối với bị cáo. Quá trình điều tra, bị cáo trình bày không nhớ đã nộp hay chưa và từ trước đến nay không có cơ quan nào đến thu tiền. Do đó không đủ căn cứ để xác định bị cáo chưa chấp hành xong quyết định về án phí của các Bản án trên để xác định bị cáo còn tiền án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn L1, sinh ngày 01/01/1969 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: 04/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị K; vợ: Trần Thị N, sinh năm 1972; con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Bảo, sinh ngày 01/01/1947 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Buôn bán cá; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: T (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị S (đã chết); con: có 11 con, lớn nhất chưa xác định được năm sinh, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Tại Bản án số 110/HS-ST ngày 21/12/1991, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) tuyên xử 12 tháng tù về tội "Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài" và phải chịu 15.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 13/6/1992 chấp hành xong hình phạt tù và về địa phương. Về việc chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, tại Công văn số 59 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P và Công văn số 1724 ngày 26/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Huế có văn bản trả lời đã tiến hành kiểm tra, rà soát hồ sơ thi hành án dân sự được lưu trữ nhưng không có thông tin và kết quả thi hành án dân sự đối với bị cáo. Do đó không đủ căn cứ để xác định bị cáo chưa chấp hành xong quyết dịnh về án phí của Bản án trên để xác định bị cáo còn tiền án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Hồ Quý, sinh ngày 01/01/1964 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Nuôi trồng thủy sản; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ N1 (đã chết) và bà Đặng Thị B (đã chết); vợ: Võ Thị H, sinh năm 1960; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Đ1, sinh ngày 01/01/1982; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Hồ Văn L2, sinh ngày 01/01/1975; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 25/01/2025, Hồ Văn M, Trần Văn L1, Trần B1 đi bộ đến nhà Trần Văn D tại thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H để ngồi chơi uống nước. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, M rủ B1, L1, D cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài xì tẩy thắng, thua bằng tiền thì mọi người đều đồng ý. Biết nhà anh Trần Văn Đ1 là con trai của D không có ai ở nhà nên D rủ mọi người sang nhà anh Đ1 để đánh bạc. Các bị cáo chuẩn bị hai bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 28 lá bài, từ lá bài số 8 đến lá bài J, Q, K, A (xì dách) (do ông D mang từ nhà sang) và 01 đĩa sứ lấy tại nhà của anh Đ1. Sau đó thì có Hồ Q ở cùng thôn đến và tham gia cùng đánh bạc. Các bị cáo đã chuẩn bị tiền để dùng đánh bạc như sau: Mão 8.000.000 đồng, D 1.950.000 đồng, L1 1.910.000 đồng, B1 1.890.000 đồng, Q 1.980.000 đồng.
Cách thức chơi đánh bạc bài xì tẩy thắng, thua bằng tiền được cả nhóm thống nhất cụ thể như sau:
Các đối tượng chỉ lấy 28 lá bài của bộ bài tú lơ khơ từ lá bài số 8 đến lá bài xì dách để đánh bài xì tẩy, quy ước đặt tẩy mỗi người 200.000 đồng ở chiếu bạc, ở mỗi ván chơi, sau khi chia cho mỗi người chơi 2 lá bài, người chơi sẽ chọn 01 trong hai lá bài trong tay để lật lên cho mọi người xem còn lá bài còn lại sẽ úp xuống chiếu bạc. Người nào tham gia chơi sẽ đặt cược ở giữa chiếu bạc 10.000 đồng, ai bài nhỏ không muốn tham gia ván chơi thì không đặt cược. Sau đó lần lượt chia thêm bài cho từng người chơi, sau một lượt chia thêm bài thì ai có lá bài lớn nhất sẽ được đưa ra số tiền cược thêm, ai tiếp tục tham gia thì đặt thêm số tiền tương ứng ra giữa chiếu bạc, cứ như thế cho đến khi chia đến lá bài thứ 5 thì ai có bài lớn nhất theo quy ước sẽ được thắng toàn bộ số tiền đặt cược ở giữa chiếu bạc. Khi người chơi đã thua hết số tiền đặt tẩy 200.000 đồng thì có thể lấy thêm tiền trên người ra để bổ sung tiền đặt tẩy để tiếp tục chơi. Đến khoảng 02 giờ ngày 26/01/2025 thì ông Hồ Q có đến tham gia đánh bạc cùng.
Đến 02 giờ 30 phút ngày 26/01/2025 khi các đối tượng trên đang đánh bạc thì bị Công an huyện P, thành phố H (nay là Công an thành phố H) tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang: Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q về hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì tẩy thắng thua bằng tiền. Thu giữ các vật chứng do các đối tượng trên dùng vào việc đánh bạc gồm: 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, mỗi bộ bài gồm 28 lá bài, từ lá bài số 8 đến lá bài xì dách; 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm; số tiền tại chiếu bạc các đối tượng dùng đánh bạc số tiền: 8.680.000 đồng.
Thu giữ trên người của Hồ Văn M số tiền 5.000.000 đồng; Trần Văn D số tiền 800.000 đồng; Trần Văn L1 số tiền 700.000 đồng và Trần B1, số tiền 550.000 đồng. Tất cả số tiền đã thu giữ nói trên, các bị cáo đều đã dùng và sẽ dùng cho việc đánh bạc. Kết quả điều tra xác định số tiền thu giữ trên người các đối tượng đều sử dụng vào việc đánh bạc.
Như vậy, tổng số tiền dùng đánh bạc của Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q là: 15.730.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
* Vật chứng tạm giữ:
- - 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng;
- - 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm;
- - Tiền Ngân hàng N2 phát hành: 15.730.000 đồng. Trong đó: T2 tại chiếu bạc số tiền 8.680.000 đồng; thu giữ trên người của Hồ Văn M số tiền 5.000.000 đồng; Trần Văn D số tiền 800.000 đồng; Trần Văn L1 số tiền 700.000 đồng và Trần B1, số tiền 550.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm và số tiền 15.730.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSPV ngày 11 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố các bị cáo của Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn M từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; xử phạt Trần Văn L1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; xử phạt Hồ Q từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn D từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt Trần B1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng; đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 28 lá bài, từ lá bài số 8 đến lá bài xì dách đã qua sử dụng là vật dùng để đánh bạc; 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm, là vật dùng để đánh bạc; tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 15.730.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng), là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 25/01/2025 đến 02 giờ 30 phút ngày 26/01/2025, tại nhà của anh Trần Văn Đ1 ở địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện P, thành phố H, các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q đã có hành vi cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài xì tẩy thắng thua bằng tiền thì thì bị Công an huyện P, thành phố H (nay là Công an thành phố H) tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo đã dùng và sẽ dùng để đánh bạc là 15.730.000 đồng (mười lăm triệu, bảy trăm, ba mươi nghìn đồng) nên các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Quý P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố H truy tố các bị cáo phạm tội như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, thấy rằng:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, muốn thu lợi bất chính nên dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Hồ Văn M là người khởi xướng và cùng với các bị cáo còn lại thực hiện hành vi phạm tội với mục đích thu lợi bất chính từ việc đánh bạc.
Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử xác định các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn L1, Hồ Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trần B1 và Trần Văn D tại thời điểm phạm tội trên 70 tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên” nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ răng đe, giáo dục.
[3] Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố H đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo Trần Văn D, Trần B1, Hồ Q là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên không phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về khấu trừ thu nhập: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không khấu từ thu nhập của các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 28 lá bài, từ lá bài số 8 đến lá bài xì dách đã qua sử dụng và 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm, là vật dùng để đánh bạc nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 15.730.000 đồng; trong đó: Số tiền thu giữ trên chiếu bạc 8.680.000 đồng, thu giữ Hồ Văn M số tiền 5.000.000 đồng, thu giữ Trần Văn D số tiền 800.000 đồng, thu giữ Trần Văn L1 số tiền 700.000 đồng và Trần B1 số tiền 550.000 đồng; đây là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn L1, Hồ Q, Trần Văn D, Trần B1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Hồ Văn M 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn L1 09 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Q 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn D 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Xử phạt bị cáo Trần B1 09 tháng cải tạo không giam giữ.
2. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án. Giao các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn L1, Hồ Q, Trần Văn D, Trần B1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 15,5 cm; 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 28 lá bài từ lá bài số 8 đến lá bài xì dách; có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, thành phố H.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 15.730.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) sử dụng cho việc đánh bạc; có đặc điểm theo Giấy nộp tiền mặt ngày 29/4/2025, người nộp tiền: Võ Chiến Hữu- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, thành phố H tại Phòng Giao dịch số 14- Kho bạc Nhà nước Khu vực XII.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Hồ Văn M, Trần Văn D, Trần Văn L1, Trần B1 và Hồ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án sơ thẩm công khai, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc - Hồ Văn Mão và đồng phạm
