Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Huệ.
  2. Ông Phạm Văn Tình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: không); sinh ngày: 30/8/1996 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn H và bà: Trần Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 08/01/2025 đến ngày 14/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị N, sinh năm 1976. Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1966. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có pháo nổ vào dịp tết, khoảng 20h30 phút ngày 07/01/2025, Nguyễn Ngọc T đi đến quán nước ven đường mới gần ngã ba xã V, huyện Q hỏi mua 06 (sáu) bánh pháo với giá 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng)/1 bánh của một người phụ nữ không quen biết. Hai bên thỏa thuận giao hàng tại cánh đồng cạnh nghĩa trang. Sau đó, T điều khiển xe máy Wave Alpha biển kiểm soát 37L2-11747 đi đến cánh đồng thuộc thôn C, xã V, huyện Q gặp người phụ nữ, đưa cho người phụ nữ số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và nhận 01 (một) thùng xốp bên trong đựng pháo loại 36 quả. Khi T điều khiển xe đi về đến đường liên xã V, A thuộc địa phận thôn C, xã V, huyện Q thì bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang, thu giữ 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật có kích thước, đặc điểm giống nhau, có ký hiệu KR5-3611 và 01 (một) xe máy Wave Alpha biển kiểm soát 37L2-11747.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật giống nhau, kích thước (14x14x12)cm được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, ký hiệu KR5-3611, có tổng khối lượng 6,9 kg (sáu phẩy chín ki lô gam). Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 1,15 kg (một phẩy mười lăm ki lô gam). Sau khi lấy mẫu vật gửi giám định, số còn lại được niêm phong, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.

Tại Kết luận giám định số 142/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 13/01/2025, Phòng K Công an tỉnh N kết luận “Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Ngọc T gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ”.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-QL ngày 19/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 07-09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14-18 tháng.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 5,75kg (năm phẩy bảy mươi lăm ki lô gam); trả lại 01 (một) xe máy Wave Alpha biển kiểm soát 37L2-11747 cho bà Trần Thị N.

Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị N: xin nhận lại xe máy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận T mua của một người phụ nữ không quen biết 6,9kg pháo nổ với giá 4.500.000 đồng để nổ vào dịp tết, vào lúc 21h30 phút ngày 07/01/2025, tại đường L, xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An, T bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang. Bị cáo không được nhà nước cho phép, nhận thức được pháo là loại hàng hóa bị cấm, hành vi mua 6,9kg (sáu phẩy chín kilogam) pháo về để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý hàng hóa kinh doanh có điều kiện của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp

hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

[5] Xử lý vật chứng: Pháo thu giữ của bị cáo là loại hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh nên tịch thu, tiêu hủy. Xe máy Wave Alpha biển kiểm soát 37L2-11747 của bà Trần Thị N, bà N không biết bị cáo mượn xe đi mua pháo nên trả lại cho bà N.

[6] Cơ quan điều tra tiến hành xác minh người phụ nữ bán pháo cho T, nhưng không xác định được, nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

    Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

  2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 5,75kg (năm phẩy bảy mươi lăm ki lô gam) được niêm phong trong thùng xốp; trả lại 01 (một) xe máy Wave Alpha biển kiểm soát 37L2-11747 cho bà Trần Thị N. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
  3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND xã Thuận Long (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc T phạm tội Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger