Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HOÁ

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 05 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lân và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với:

Bị cáo Tống Phước Nhật N (tên gọi khác: Bột); sinh ngày 13/10/1982 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay thành phố H); số CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT: Số A đường H, phường P, quận T, thành Phố H; chỗ ở: Số D đường Đ, phường A, quận T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Phước H và bà Trương Thị Mỹ T; vợ đã ly hôn tên: Văn Thị Nhật L và có 01 con sinh năm 2012; tiền sự: 01:

  • - Ngày 11/5/2024, bị Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H (nay là quận T) áp dụng biện pháp xử phạt hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Quyết định số 109/QĐ-XPHC ngày 11/5/2024).

Tiền án: 01:

  • - Ngày 20/03/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 44/2018/HS-ST ngày 20/03/2018). Bản án này bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế kháng nghị. Đến ngày 27/06/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 87/2018/HS-PT).

Quá trình nhân thân:

  • - Ngày 08/8/1999, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế bắt khởi tố về hành vi “Đánh bạc”. Đến ngày 18/12/1999 được đình chỉ điều tra.
  • - Ngày 22/8/2000, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” (quyết định số 1759);
  • Ngày 07/10/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (bản án số 115/2004/HS-ST).
  • Ngày 04/4/2006, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Hủy hoại tài sản” (quyết định số 3174).
  • Ngày 04/8/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 116/2008/HS-ST). Ngày 15/8/2008 Tống Phước Nhật N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, sau đó bị cáo rút đơn nên Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế) ra quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm (Quyết định số 92/2008/HSPT-QĐ ngày 23/9/2008).
  • - Ngày 18/12/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (bản án số 188/2014/HS-PT).
  • Ngày 24/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 220/2019/HS-ST ngày 24/10/2019). Ngày 12/11/2019 Tống Phước Nhật N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, sau đó bị cáo rút đơn nên Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế) ra quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm (Quyết định số 03/2020/HSPT-QĐ ngày 07/01/2020).
  • Ngày 16/5/2022, Tống Phước Nhật N chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống. (Giấy chứng nhận số: 482/GCN ngày 16/5/2024 của Trại giam N1, tỉnh Quảng Trị).

Bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Võ Thị T1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số A đường H, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phan Văn T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số D đường N, phường A, quận T, thành phố H. Vắng mặt.

Bà Lê Thị Huyền T3, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số B đường H, phường A, quận T, thành phố H. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Tống Phước H, sinh năm: 1960; địa chỉ: Số D đường Đ, phường A, quận T, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 ngày 04/8/2024, Tống Phước Nhật N đi từ tầng 2 xuống tầng 1 của nhà số D Đ, phường A, thành phố H (nay là Quận T) thì phát hiện thấy có xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn: trắng bạc đen, biển số 74F1-202.53 của chị Võ Thị T1 (sinh năm 1996, trú tại: A H, phường P, thành phố H (nay là Quận T) đang cắm sẵn chìa khóa trên xe. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên N đã lén lút lấy trộm xe mô tô trên. Sau khi lấy trộm xe của chị T1, N chạy xe đến đường H, phường A, thành phố H (nay là quận T). Tại đây, N điện thoại cho nam thanh niên tên là Cu E (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi nơi cầm xe. Sau đó, Cu E gọi điện cho anh Phan Văn T2 (sinh năm 1991, trú tại: 4 N, phường A, thành phố H (nay là quận T) nói là em có thằng bạn có chiếc xe Air Blade đang kẹt tiền hỏi có tiền cho mượn để lại chiếc xe ít hôm trả lại. Sau đó, hẹn T2 đến tại quán N2 ở đường H, phường A, thành phố H (nay là quận T) để gặp N. Khoảng 10 phút sau T2 đến; Tại đây, N gặp T2 và hỏi mượn 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) rồi để lại xe mô tô A làm tin. T2 hỏi nguồn gốc xe của ai thì N nói là xe của đứa em trong nhà. Sau đó, T2 điện thoại cho chị Lê Thị Huyền T4 (sinh năm 1984, trú tại: B H, phường A, thành phố H (nay là quận T) nói là em có một người bạn của em cần tiền đi bệnh viện nên muốn mượn 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và để lại chiếc xe đang đi để làm tin và hẹn 10 ngày sau trả thành 5.400.000 đồng được không? Thì chị T4 hỏi có giấy tờ gì không, T2 trả lời họ nói xe trong gia đình nên đưa giấy tờ sau. Tin là thật nên chị T4 đồng ý. Sau đó, T2 yêu cầu N viết giấy mượn tiền cho chị T4. Khi N viết xong, T2 đem căn cước công dân của N, giấy mượn tiền do N ký và xe mô tô Honda Airblade, biển số 74F1-202.53 đến cho chị T4 và chị T4 đưa số tiền 5.000.000 đồng cho T2; nhận được tiền T2 quay lại đường H đưa cho N. Lấy được tiền, Nam tiêu xài cá nhân hết. Tại Cơ quan Công an, N đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn: trắng bạc, biển số 74F1-202.53, số máy: JF63e1464221, số khung: RLHJF6301FZ464176.
  • - 01 (một) USB màu đen có chữ Sandisk chứa video Tống Phước Nhật Nam lén lút trộm cắp tài sản.
  • - 01 (một) trang giấy kẻ ngang tiêu đề giấy mượn tiền, viết tay ghi ngày 04/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N.
  • - 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] họ tên Tống Phước Nhật N cấp ngày 27/5/2023.
  • - 01 (một) tờ giấy tiêu đề giấy cam đoan có chữ viết nội dung ghi ngày 20/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 4852/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H (nay là quận T) kết luận 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu hiệu Honda, số loại AIR BLADE, màu sơn: trắng bạc đen, biển số 74F1-202.53, số máy: JF63e1464221, số khung: RLHJF6301FZ464176, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 04/8/2024 có trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thành phố H (nay là Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an quận T) đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô hiệu Honda, số loại AIR BLADE, màu sơn: trắng bạc đen, biển số 74F1-202.53, số máy: JF63e1464221, số khung: RLHJF6301FZ464176 cho chủ sở hữu là chị Võ Thị T1. Chị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Đối với 01 (một) USB màu đen có chữ Sandisk chứa video Tống Phước Nhật Nam lén lút trộm cắp tài sản; 01 (một) trang giấy kẻ ngang tiêu đề giấy mượn tiền, viết tay ghi ngày 04/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N; 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] họ tên Tống Phước Nhật N cấp ngày 27/5/2023 và 01 (một) tờ giấy tiêu đề giấy cam đoan có chữ viết nội dung ghi ngày 20/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N, tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án để phục vụ việc truy tố và xét xử.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Võ Thị T1 sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt thì không có yêu cầu gì thêm. Đối với số tiền 5.000.000 đồng chị Lê Thị Huyền T4 cầm cố xe do N mang đến thì chị T4 không yêu cầu N phải bồi thường nên không xem xét.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSTH ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H đã truy tố bị cáo Tống Phước Nhật N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để tuyên bố bị cáo Tống Phước Nhật N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

  • - Xe AIR BLADE, biển số 74F1-202.53, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại chủ sở hữu chị Võ Thị T1, chị T1 đã nhận và không yêu cầu gì thêm nên không yêu cầu xem xét.
  • - 01 (một) USB màu đen có chữ Sandisk chứa video Tống Phước Nhật Nam lén lút trộm cắp tài sản; 01 (một) trang giấy kẻ ngang tiêu đề giấy mượn tiền, viết tay ghi ngày 04/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N và 01 (một) tờ giấy tiêu đề giấy cam đoan có chữ viết nội dung ghi ngày 20/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N, cần tiếp tục lưu tại hồ sơ.
  • - 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] họ tên Tống Phước Nhật N cấp ngày 27/5/2023 trả lại cho bị cáo Tống Phước Nhật N.

Về án phí: Đề nghị tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Tống Phước Nhật N thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng truy tố; xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 04 tháng 8 năm 2024, tại tầng 1 nhà số D đường Đ, phường A, quận T, thành phố H; bị cáo Tống Phước Nhật N đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda AIR BLADE, biển kiểm soát 74F1-202.53 của chị Võ Thị T1 có giá trị 15.000.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 20/3/2018, Tống Phước Nhật N đã bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xác định là “tái phạm” (Bản án số 44/2018/HS-ST). Sau đó án bị Viện kiểm sát kháng nghị. Đến ngày 27/6/2018, Tống Phước Nhật N bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân thành phố Huế) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 87/2018/HS-PT). Bị cáo chưa thi hành phần án phí hình sự và án phí dân sự của các bản án này nên chưa được xoá án tích. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo cũng đã thừa nhận và không khiếu nại gì về việc Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá xác định tình tiết định khung tăng nặng này. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tống Phước Nhật N không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Tống Phước Nhật N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam nên đã phạm tội. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân và chính người thân trong gia đình. Bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần vi phạm pháp luật, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi: “Gây rối trật tự công cộng”, “Huỷ hoại tài sản”; và bị xử phạt tù về các tội “Cố ý gây thương tích” và nhiều lần về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành hình phạt tù nhiều lần, nhưng vẫn không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên ngày 11/5/2024, bị Ủy ban nhân dân phường A, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hành vi của bị cáo cho thấy rõ việc coi thường pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với chị Lê Thị Huyền T4 cầm cố xe do N mang đến với số tiền 5.000.000 đồng, chị T4 không yêu cầu N phải bồi thường và không có ai yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe AIR BLADE, biển số 74F1-202.53, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại chủ sở hữu chị Võ Thị T1, chị T1 đã nhận xe và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) USB màu đen có chữ Sandisk chứa video Tống Phước Nhật Nam lén lút trộm cắp tài sản; 01 (một) trang giấy kẻ ngang tiêu đề giấy mượn tiền, viết tay ghi ngày 04/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N và 01 (một) tờ giấy tiêu đề giấy cam đoan có chữ viết nội dung ghi ngày 20/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N, cần tiếp tục lưu tại hồ sơ.

Đối với 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] họ tên Tống Phước Nhật N cấp ngày 27/5/2023, cần trả lại cho bị cáo Tống Phước Nhật N.

[7] Về án phí: Bị cáo Tống Phước Nhật N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tống Phước Nhật N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
    • Bị cáo Tống Phước Nhật N (tên gọi khác: B) 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 10/10/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tiếp tục lưu tại hồ sơ: 01 (một) USB màu đen có chữ Sandisk chứa video Tống Phước Nhật Nam lén lút trộm cắp tài sản; 01 (một) trang giấy kẻ ngang tiêu đề giấy mượn tiền, viết tay ghi ngày 04/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N và 01 (một) tờ giấy tiêu đề giấy cam đoan có chữ viết nội dung ghi ngày 20/8/2024 có chữ ký tên Tống Phước Nhật N.

    Trả lại cho bị cáo Tống Phước Nhật N: 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] họ tên Tống Phước Nhật N cấp ngày 27/5/2023.

    (Hiện căn cước công dân đang lưu tại hồ sơ vụ án. Toà án sẽ chuyển cho cơ quan thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật)

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tống Phước Nhật N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND quận Thuận Hoá;
  • - Chi cục THADS quận Thuận Hoá;
  • - Phân trại tạm giam Thuận Hóa - Phú Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Các Bị hại;
  • - Người có qlnvlq;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Vinh Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Phước Nhật N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger