Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS - ST

Ngày: 20/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Hợp.

2. Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST - HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Mạnh H, sinh ngày 04/11/2002; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Trình độ văn hóa: 10/12. Bố: Lương Văn H1, sinh năm 1977, Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1984. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến ngày 08/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 và anh Nguyễn Thành L, sinh năm 2003. Đều TQ: xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Đều vắng mặt có lý do);

* Người có QLNVLQ: anh Lương Văn H1, sinh năm 1977; anh Trần Văn S, sinh năm 1994. Đều trú tại: xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt anh H1, vắng mặt anh S có lý do);

* Người làm chứng: anh Lý Văn H2, sinh năm 1977; anh Phạm Ngọc H3, sinh năm 1988; anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001. Đều trú tại: xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2000. Trú tại: xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh T2 vắng mặt không lý do, còn lại đều vắng mặt có lý do);

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 7/2024, Lương Mạnh H sử dụng mạng xã hội Facebook thì thấy tài khoản “Luân Đán” của anh Nguyễn Thành L, sinh năm 2003, trú tại: xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đăng tải thông tin tìm việc làm tại khu vực huyện Đ. Do không có việc làm nên H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh L bằng hình thức đưa ra thông tin gian dối để xin việc làm cho anh L. H sử dụng 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu trắng và chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu đen lắp 02 số thuê bao 0344.776.534 và 0344.752.737 của H đăng nhập tài khoản Facebook có tên “Mạnh Hà TN” nhắn tin cho anh L và giới thiệu mình tên là M có quen Nguyễn Văn C làm ở bộ phận kho của Công ty M1 địa chỉ tại xã B, huyện Đ có thể xin được việc làm cho anh L. H sử dụng số thuê bao 0344.776.534 tạo lập tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Văn C” nhắn tin cho anh L và nói có thể xin việc cho anh L tại Công ty M1 với mức lương 15.000.000 đồng/ tháng với điều kiện anh L phải nộp trước lệ phí 6.000.000 đồng (tên M và C thực tế là do H tự đưa ra). Do không biết được mục đích của H nên anh L tin tưởng H nói thật và đã xin tiền của bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 (là bà cô ở cùng nhà với anh L) để bà B cùng lo việc cho anh L. Khi nghe anh L nói cần tiền xin việc thì bà B đồng ý và đưa cho anh L 6.000.000 đồng. Anh Luân C1 số tiền trên vào tài khoản của mình có số 0384205203 mở tại ngân hàng TMCP Q1 (M2), sau đó chuyển tiền thành nhiều lần từ tài khoản của mình đến tài khoản ngân hàng có số [...] mang tên “LUONG MANH HA” mở tại ngân hàng TMCP C2 (V) do H cung cấp. Sau khi nhận được tiền, H thông tin lại cho anh L quá trình xin việc phát sinh nhiều thủ tục, liên hệ với nhiều người nên H tiếp tục sử dụng tài khoản Z có tên “Nguyễn Văn C” và sử dụng số điện thoại 0344.776.xxx gọi điện cho anh L và bà B đưa ra các thông tin gian dối như: “Muốn làm ở bộ phận kho thì phải đi học thêm, không muốn đi học thì phải nộp thêm tiền”, “Có vị trí quản lý kho lương cao hơn nếu muốn làm thì chuyển thêm tiền”, “Nếu muốn thay đổi địa điểm đào tạo cấp chứng chỉ từ Hà Nội về thành phố T thì phải chuyển tiền để lo liệu”... Sau khi anh L nhận được những thông tin trên từ H, tin tưởng là thật, anh L đều về bàn bạc với bà B để bà B đưa tiền cho anh L, sau đó anh L đưa tiền cho H lo việc thì bà B đều đồng ý. Từ ngày 19/7/2024 đến ngày 17/8/2024, anh L đã chuyển khoản nhiều lần từ số tài khoản 0384205203 mở tại ngân hàng M2 mang tên NGUYEN THANH LUAN đến số tài khoản 107873640621 mở tại ngân hàng V mang tên LUONG MANH HA của H với tổng số tiền là 21.220.000 đồng (trong đó có 04 lần anh L chuyển khoản cho H trên 2.000.000 đồng/ lần với số tiền là 9.500.000 đồng).

Do anh L không có nhiều tiền trong tài khoản nên sau khi bà B đưa tiền mặt cho anh L thì anh L trực tiếp giao tiền cho H 03 lần (mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng) tại khu vực tam giác huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ với tổng số tiền 23.280.000 đồng.

2

Sau ngày 17/8/2024, trong quá trình chờ xin việc, anh L đi đến khu công nghiệp V thuộc thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm và không liên lạc với H nữa. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc tại Bắc Giang, bà B có nhờ L về chuyển cho H để H tiếp tục lo việc, anh L đồng ý. Sau đó anh L trực tiếp giao cho H 03 lần (mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng) tại khu vực tam giác huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ và khu vực Q thuộc TDP B, thị trấn H, huyện Đ với tổng số tiền 9.500.000 đồng.

Tất cả những lần đến nhận tiền do anh L trực tiếp giao, H đều điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn: trắng - đen - bạc, BKS: 20F1-302.28 (là xe của anh Lương Văn H1, sinh năm 1977, trú tại: xóm R, xã B, huyện Đ - là bố đẻ của H) đến lấy. Để không bị phát hiện, khi đến nhận tiền H đều nói mình tên là M đến nhận tiền giúp C và sử dụng số thuê bao 0344.752.737 để liên lạc hẹn địa điểm nhận tiền. Tổng số tiền bà B đưa cho anh L sau đó anh Luân C1 cho H là 54.000.000 đồng.

Về phía bà B, sau một thời gian vẫn chưa thấy anh L được đi làm, bà B gọi cho H thì H đưa ra thông tin gian dối là “Xin việc tại công ty M1 không được, tuy nhiên H có quen một người tên là Q - là giám đốc Công ty M1 đã nghỉ hưu có thể xin việc cho anh L tại đây”, “Hồ sơ đã nộp vào công ty tuy nhiên chưa cho đi làm luôn, cần có thời gian để sắp xếp hợp lý, nếu muốn đi làm ngay thì phải chuyển thêm tiền”, “Cần có chứng chỉ, nộp tiền quần áo, tiền phòng, sách vở, tiền bảo hiểm, giấy khám sức khỏe”, “Nếu muốn thay đổi địa điểm đào tạo cấp chứng chỉ từ Bắc Giang về thành phố P thì phải chuyển tiền để lo liệu”. Tin tưởng tất cả thông tin do H đưa ra là đúng, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 7 đến khoảng giữa tháng 8/2024, bà B đã nhiều lần đưa cho anh L tổng số tiền 54.000.000 đồng để anh L đưa cho H lo việc như nêu trên. Ngoài ra, bà B trực tiếp đưa tiền cho H nhiều lần tại khu vực bãi đất thuộc xóm G, xã K, huyện Đ và khu vực tam giác huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ với tổng số tiền 57.500.000 đồng nhưng anh L không được đi làm như H hứa hẹn. Tuy nhiên sau đó H liên lạc với bà B đưa ra thông tin “Do không xin được việc cho anh L tại công ty M1 ở Thái Nguyên nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ và tiền của bà B xuống công ty M1 ở Hải Dương để xin cho anh L làm tại đây”. Để tạo lòng tin H sử dụng số điện thoại 0344.766.xxx xưng là người ở công ty M1 ở Hải Dương nói với bà B là hồ sơ của anh L đang ở dưới công ty và đã nộp xuống công ty 65.000.000 đồng. Sau đó H tiếp tục sử dụng số điện thoại 0344.766.xxx xưng là C để nói chuyện với bà B, khi bà B yêu cầu Hà chuyển lại tiền cho bà B để xin cho anh L làm ở chỗ khác thì H đưa ra thông tin rằng “Muốn rút tiền về thì phải nộp vào 20.000.000 đồng để công ty giải ngân, sau khi giải ngân bà B sẽ được trả toàn bộ số tiền 85.000.000 đồng”, “Số tiền đã nộp vào công ty là 85.000.000 đồng nhưng chưa rút được tiền và hồ sơ, muốn rút về thì phải nộp thêm 44.000.000 đồng”, “Thời hạn giải ngân trong ba ngày 28, 29, 30/8/2024 thì nộp thêm 22.000.000 đồng”... Bà B đã tin tưởng và nhiều lần trực tiếp đưa tiền cho H tại khu vực bãi đất thuộc xóm G, xã K, huyện Đ với tổng số tiền 35.000.000 đồng. Đến cuối tháng 8/2024, sau khi nhận được các thông tin mà H đưa ra thì bà B không còn tiền và không liên lạc lại với H nữa. Những lần đến nhận tiền do bà B trực tiếp giao, H điều khiển xe mô tô

3

BKS: 20F1-302.28 (của anh H1) và xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn: đỏ, BKS: 20A-361.63 (là xe của anh Trần Văn S, sinh năm 1994, trú tại: xóm Đ, xã B, huyện Đ) đến lấy và H đều nói mình tên là M đến nhận tiền giúp C. Tổng số tiền bà B trực tiếp đưa cho H là 92.500.000 đồng (trong đó có 14 lần bà B trực tiếp giao tiền cho H với số tiền trên 2.000.000 đồng/ lần).

Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh L và bà B, H đã nhiều lần nhờ anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001, trú tại: xóm B, xã B, huyện Đ; anh Lý Văn H2, sinh năm 1977; anh Triệu Đức L1, sinh năm 1977, cùng trú tại: xóm R, xã B, huyện Đ; anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2000, trú tại: xóm Đ, xã T, huyện Đ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của H và H trả tiền mặt cho họ. Tổng số tiền H nhờ chuyển vào tài khoản của H là 93.525.000 đồng. H đã mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím của anh Phạm Ngọc H3, sinh năm 1988, trú tại: xóm B, xã B, huyện Đ với số tiền 21.500.000 đồng (H có sử dụng chiếc điện thoại này đăng nhập tài khoản Zalo nhắn tin, liên lạc nhằm chiếm đoạt tiền của anh L và bà B, sau đó H đã bán lại chiếc điện thoại này cho anh H3); số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết.

Về phía bị hại, sau nhiều lần giao tiền cho H nhưng anh L vẫn chưa được đi làm, biết đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên ngày 02/9/2024 bà B làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã K, huyện Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Tiếp nhận tin báo, Công an xã K, huyện Đ đã tiến hành xác minh ban đầu và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu sơn đỏ, BKS: 20A-361.63; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu trắng do anh Trần Văn S giao nộp. Ngày 25/9/2024, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật bằng hình thức trả lại chiếc xe ô tô và chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn S quản lý, sử dụng.
  • + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn trắng - đen - bạc, BKS: 20F1-602.28 do H giao nộp và 146.500.000 đồng tiền Ngân hàng N. Ngày 08/10/2024, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Văn H1 quản lý, sử dụng; trả lại 146.500.000 đồng cho bị hại là bà Nguyễn Thị B quản lý, sử dụng.
  • + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0344.752.737, cũ đã qua sử dụng do H giao nộp (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A) và 01 chiếc sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao là 0344.776.534 do H giao nộp khi khám xét (được niêm phong trong phong bì ký hiệu S). Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
  • + Đối với chiếc điện thoại H bán lại cho anh H3, sau đó anh H3 đã bán lại cho một người không quen biết nên không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền 146.500.000 đồng cho bị hại, bị hại không còn yêu cầu, đề nghị gì thêm đối với H.

4

Tại bản cáo trạng số 10/CT - VKSĐT ngày 03/01/2025, VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Mạnh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Lương Mạnh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: bị cáo Lương Mạnh H mức án từ 36 đến 42 tháng tù; Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy. Tại phiên tòa bị cáo Lương Mạnh H khai nhận: Khoảng thời gian từ giữa tháng 7 năm 2024, Lương Mạnh H sử dụng mạng xã hội Facebook biết được anh Nguyễn Thành L và bà Nguyễn Thị B có nhu cầu tìm kiếm việc làm nên H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh L và bà B. H đưa ra những thông tin gian dối là H có khả năng xin việc làm cho anh L. H quen biết Thủ kho công ty M1, huyện Đ, Giám đốc Công ty M1 đã về hưu, người quen làm việc ở Công ty M1 đồng thời sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Nguyễn Văn C” để nhắn tin, liên lạc với anh L và bà B, đưa ra những thông tin không có thật để anh L và bà B tin tưởng giao tiền cho H. Bà B và anh L đã tin tưởng những thông tin H cung cấp để xin việc làm cho anh L là thật nên bà B và anh L đã nhiều lần chuyển tiền cho H để H xin việc cho anh L, cụ thể:

+ Từ ngày 19/7/2024 đến khoảng cuối tháng 8/2024, tại khu vực tam giác huyện Đ thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ và khu vực Q thuộc TDP B, thị trấn H, huyện Đ, Lương Mạnh H đã chiếm đoạt số tiền 54.000.000 đồng của anh L (trong đó có 10 lần anh L giao cho H với số tiền trên 2.000.000 đồng/ lần).

+ Trong tháng 8/2024, tại khu vực tam giác thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ và khu vực xóm G, xã K, huyện Đ, Lương Mạnh H đã chiếm đoạt số

5

tiền 92.500.000 đồng của bà B chi tiêu cá nhân hết (trong đó có 14 lần bà B trực tiếp giao tiền cho H với số tiền trên 2.000.000 đồng/ lần).

Như vậy, tổng số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của bà B và anh L là 146.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình H đã tự nguyện khắc phục số tiền 146.500.000 đồng cho bị hại (có sự phối hợp và đồng ý bồi thường của bị cáo); bị hại không còn yêu cầu, đề nghị gì thêm đối với H.

Lời khai của Lương Mạnh H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như đơn trình báo của bị hại, biên bản xác định hiện trường, sao kê tài khoản ngân hàng, biên bản kiểm tra điện thoại, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: ...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; kết hợp cùng gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức về các việc làm đúng sai; tuy bản thân là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng do ăn chơi đua đòi và lười lao động nên khi thấy có sự nhẹ dạ, cả tin và thiếu hiểu biết của người khác, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[6]. Về hình phạt chính: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy, Lương Mạnh H phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Mặc dù bị cáo thành khẩn khai báo và đến nay đã phối hợp cùng gia đình khắc phục bồi thường đầy đủ cho người bị hại nhưng qua diễn biến nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: tuy bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng đã sử dụng các phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, lựa chọn và nhằm vào những người có

6

hoàn cảnh khó khăn, hạn chế về nhận thức, với nhiều lần, nhiều cách thức khác nhau để chiếm đoạt tài sản của họ nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định lại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS là phạm tội nhiều lần. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX cần có mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.

[7]. Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0344.752.737, cũ đã qua sử dụng do H giao nộp (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A) và 01 chiếc sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao là 0344.776.534 do H giao nộp khi khám xét (được niêm phong trong phong bì ký hiệu S). Xác định là công cụ, phương tiện phạm tội, cần được tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung Ngân sách Nhà nước.

[9]. Các nội dung có liên quan khác:

Liên quan đến vụ án, H điều khiển chiếc xe ô tô BKS: 20A - 361.63 của anh Trần Văn S và chiếc xe mô tô BKS: 20F1 - 602.28 của anh Lương Văn H1 để đến nhận tiền của anh L và bà B; H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu trắng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím để nhắn tin, liên lạc với anh L qua mạng xã hội Zalo, sau đó H đã bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu trắng cho anh S và bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím cho anh H3. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định anh S, anh H1 và anh H3 không biết và H không nói việc H sử dụng các phương tiện, công cụ trên để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với anh S, anh H1 và anh H3.

H khai nhận, sau khi nhận tiền từ bà B và anh L, H đã nhờ anh Nguyễn Văn T1, anh Lý Văn H2, anh Triệu Đức L1, anh Nguyễn Văn T2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của H và H trả tiền mặt cho họ, H không nói nguồn gốc tiền do H phạm tội mà có. Quá trình điều tra xác định anh L1 không có mặt tại địa phương, anh T1, anh H2, anh T2 không biết nguồn gốc số tiền của H do đâu mà có, không được hưởng lợi từ việc chuyển tiền cho H. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với anh T1, anh H2, anh L1 và anh T2.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lương Mạnh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lương Mạnh H 38 (ba mươi tám) tháng tù, được trừ thời hạn bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến ngày 08/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành hình phạt.

* Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0344.752.737, cũ đã qua sử dụng

7

do H giao nộp (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A) và 01 chiếc sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao là 0344.776.534 do H giao nộp khi khám xét (được niêm phong trong phong bì ký hiệu S);

(Đặc diểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ - VKS ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường xong cho bà Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thành L số tiền 146.500.000 đồng.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, bị hại, Người có QLNVLQ biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh; VKSND Đại Từ;
  • - THADS + THAHS huyện Đại Từ;
  • - Bị cáo; UBND xã Bản Ngoại;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS - ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Mạnh H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger