TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 19/02/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Trần Thị Hậu
2. Ông Nguyễn Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Đại T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/11/2000 tại tỉnh An Giang; HKTT: Tổ G, ấp M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, nơi ở hiện nay: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đại C, sinh năm 1961 và bà Lê Thị P, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 08 người con, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/10/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn Hồng L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/3/2004 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1981 và bà Phạm Thị T1; Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/10/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đại C, sinh năm 1961. Địa chỉ: Tổ H, khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đại T và Nguyễn Hồng L có quan hệ bạn bè và cùng là người sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/9/2024, T gọi điện thoại cho L, rủ L góp tiền mua ma túy dạng thuốc lắc về sử dụng thì L đồng ý. T và L thỏa thuận mỗi người góp số tiền 750.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, L liên hệ với một người đàn ông tên H (không rõ nhân thân lai lịch) thông qua tài khoản Zalo “Vu Thai H1” để mua 05 viên thuốc lắc với giá 1.500.000 đồng thì Hòa đồng ý bán và hẹn giao ma túy cho L tại khu vực trước cổng Thiền viện L thuộc xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Theo yêu cầu của H, L đem số tiền 1.500.000 đồng để vào trong bụi cây phía trước cổng T2 viện Liễu Đ rồi đi về nhà tại khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến 23 giờ cùng ngày, H gọi điện báo cho L biết đã lấy tiền và để ma túy bên trong vỏ bao thuốc lá S màu bạc ở vị trí L để tiền mua ma túy. Do không có xe nên L gọi điện cho T và chỉ dẫn vị trí H để ma túy cho T đến lấy. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUPERDREAM biển số 72L4-8522 đi đến xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai để lấy ma túy và cất giấu vào bên trong túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe đến nhà của L để đón L cùng đi đến Bar F ở phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chơi. Vào lúc 0 giờ 10 phút ngày 30/9/2024, khi T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUPERDREAM biển số 72L4-8522, sau xe chở L đi trên đường N, đoạn gần chùa P2 thuộc khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P phối hợp với Công an phường P, thị xã P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang T và L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa 05 viên nén màu tím nhạt không rõ hình dạng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, số IM 353074116051390; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUPERDREAM, biển số 72L4-8522 và số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lê Đại T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, số IM 353234102748645 thu giữ của Nguyễn Hồng L.
Tại Bản kết luận giám định số 516/KL-KTHS-MT ngày 05/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong, có hình dấu của Công an phường P - Công án thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Trịnh Minh C1, Văn Công Á, Dương Văn T3, Lê Đại T, Nguyễn Hồng L, Nguyễn Thành P1, bên trong có 05 (năm) gói viên nén màu tím nhạt, không rõ hình dạng có khối lượng 2,3631 gam, là ma túy, loại MDMA.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-PM ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Lê Đại T, Nguyễn Hồng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Đại T, Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Đại T và Nguyễn Hồng L mỗi bị cáo với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.
Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUPERDREAM, biển số 72L4-8522 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P trả lại cho ông C.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng đề số 516 ngày 08/10/2024 của Phòng K công an tỉnh B;
- + Tịch thu sung công điện thoại di động của Lê Đại T và Nguyễn Hồng L;
- + Trả lại số tiền 500.000 đồng cho Lê Đại T.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
+ Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xác định việc truy tố đúng tội danh, không oan.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự, Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án và tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 30/9/2024, tại khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê Đại T và Nguyễn Hồng L đang có hành vi tàng trữ trái phép 05 (năm) viên ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 2,3631 gam, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Do đó hành vi của Lê Đại T, Nguyễn Hồng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra những căn bệnh chết người, làm thiệt hại về kinh tế và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và đối với xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe, giúp cho các bị cáo từ bỏ được ma túy đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Lê Đại T là người rủ rê bị cáo L phạm tội và cũng là người trực tiếp đi lấy ma tuý; bị cáo Nguyễn Hồng L là người trực tiếp đứng ra liên hệ và mua ma túy từ người đàn ông tên H. Vì vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án nên mức phạt đối với các bị cáo là tương đương nhau.
Đồng thời xét thấy tuy các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công cụ thể nên là đồng phạm giản đơn không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUPERDREAM, biển số 72L4-8522 đứng tên chủ sở hữu là Phạm Văn T4: Năm 2015, ông T4 bán lại xe này cho ông Lê Đại C là cha đẻ của T. Ngày 29/9/2024, T mượn xe của ông C đi công việc, sau đó sử dụng vào việc phạm tội. Ông C không biết việc T dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 2287/QĐ, trả lại tài sản cho ông C là phù hợp quy định pháp luật. Tại phiên toà ông C không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề vụ số 516 ngày 08/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, mẫu vật đã sử dụng hết sau giám định.
- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone của Lê Đại T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Hồng L do các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Lê Đại T số tiền 500.000 đồng do không liên quan đến tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người đã bán trái phép chất ma túy cho L đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại T, Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Lê Đại T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 30/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 30/9/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề vụ số 516 ngày 08/10/2024 của Phòng K công an tỉnh B, mẫu vật đã sử dụng hết sau giám định.
- - Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, số IM 353074116051390, máy đã cũ của Lê Đại T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, số IM 353234102748645, máy đã cũ của Nguyễn Hồng L.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Đại T số tiền 500.000 đ (năm trăm nghìn đồng).
(Toàn bộ vật chứng trên đang được quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 40/BB-CCTHADS ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ).
3. Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Bảo Ngọc |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đại T, Nguyễn Hồng L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
