Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐIỆN BÀN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 14-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Tấn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Văn Ân; bà Lương Thị Kim Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 160/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 07/TB-TA ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1995; tại: Đ, Quảng Nam; nơi thường trú: khối phố B, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Văn N, sinh năm: 1970 và bà Đặng Thị Bích N1, sinh năm: 1972; gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ 02; bị cáo có vợ Thân Thị Xuân V, sinh năm 1987, có hai con, con lớn sionh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 22-9-2019, bị Công an tỉnh Q phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15-10-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn V1.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thành L – Giám đốc.

Địa chỉ: khối phố D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 (gọi tắt là công ty V1) có địa chỉ tại khối phố D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 4001248233 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp ngày 10-3-2022, có vốn điều lệ là 3.000.000.000 đồng, là công ty chuyên vận tải; nhận, gửi các đơn hàng của khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh đến khách hàng tiêu dùng do ông Trần Thành L (sinh năm 1985, trú khối phố D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) là người đại diện theo pháp luật của công ty. Ngày 11-5-2022, Công ty V1 ký hợp đồng lao động với Lê Văn H theo bản hợp đồng số 11/05/2022/HĐLĐ, về việc Lê Văn H được phân công nhiệm vụ hằng ngày đến kho hàng của Công ty nhận hàng theo khu vực đã phân công rồi sử dụng phương tiện cá nhân để đi giao hàng cho khách hàng, sau khi giao hàng thì H sẽ thu tiền từ khách hàng và có trách nhiệm quản lý số tiền này đến cuối ngày sẽ nộp cước và tiền COD (còn gọi là tiền hàng) về lại cho Công ty. Do khó khăn về mặt tài chính nên Lê Văn H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền hàng của Công ty nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Sau khi thu tiền từ khách hàng của nhiều đơn hàng, đến cuối ngày H giữ lại tiền của một số đơn hàng không giao nộp về cho Công ty. Để tránh sự phát hiện của Công ty nên mỗi ngày H không chiếm đoạt hết toàn bộ số tiền của các đơn hàng mà chỉ chiếm đoạt số tiền của một số đơn hàng thu được trong ngày. Đối với các đơn hàng có giá trị lớn như: đơn hàng mã vận đơn số [...] trị giá 12.750.000 đồng; đơn hàng mã vận đơn số [...] trí giá 8.700.000 đồng; đơn hàng mã vận đơn số [...] trị giá 6.271.000 đồng... thì H không chiếm đoạt tổng cộng các đơn hàng này cùng một ngày mà chia ra nhiều ngày khác nhau để chiếm đoạt. Trong khoảng thời gian một tuần từ cuối tháng 6/2022 đến đầu tháng 7/2022, Lê Văn H đã nhiều lần chiếm đoạt số tiền của Công ty V1 với tổng cộng số tiền 88.364.740 đồng của 32 đơn hàng, trong đó có nhiều đơn hàng từ 2.000.000 đồng trở lên.

Sau khi chiếm đoạt số tiền trên và bị Công ty V1 phát hiện thì H nghỉ việc ở Công ty và không có mặt ở địa phương. Ngày 04-5-2023, ông Trần Thành L có đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của H đến Cơ quan Công an. Ngày 01-7-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ Quyết định truy tìm đối với Lê Văn H và đến ngày 20-9-2024, H đến Công an thị xã Đ trình báo và khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình.

Vật chứng: 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình chuyển theo hồ sơ vụ án.

Dân sự: Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 88.364.740 đồng cho Công ty V1. Đại diện Công ty V1, ông Trần Thành L không có yêu cầu gì và có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn H về tội “Tham ô tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Lê Văn H là nhân viên của Công ty V1 được giao nhiệm vụ hằng ngày đến kho hàng của Công ty nhận hàng theo khu vực rồi sử dụng phương tiện cá nhân để đi giao hàng cho khách hàng, sau khi giao hàng sẽ thu tiền từ khách hàng và có trách nhiệm quản lý số tiền đến cuối ngày sẽ nộp về lại cho Công ty V1. Trong khoảng thời gian 01 tuần từ cuối tháng 6/2022 đến đầu tháng 7/2022, sau khi thu tiền từ khách hàng, Lê Văn H đã nhiều lần có hành vi chiếm đoạt số tiền thu về từ đơn hàng của Công ty với số tiền 88.364.740 đồng trong tổng số 32 đơn hàng (trong đó có nhiều đơn hàng trị giá từ 02 triệu đồng trở lên) dùng vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Xét kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Văn H được công ty V1 giao trách nhiệm quản lý số tiền hàng đến cuối ngày sẽ nộp về lại cho công ty. Tuy nhiên, Lê Văn H đã lợi dụng quyền hạn được giao, nhiều lần chiếm đoạt tài sản của công ty V1 với số tiền 88.364.740 (T mươi tám triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bảy trăm bốn mươi) đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung “Phạm tội hai lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Văn H với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn và tài sản của tổ chức được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù để răn đe, giáo dục bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

[2.3.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại và bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3.2] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

[2.4] Các vấn đề liên quan khác: Đối với 42 đơn hàng mà ông Trần Thành L trình báo với Cơ quan Công an (trong đó 32 đơn hàng do H chiếm đoạt có giá trị 88.364.740 đồng; 10 đơn hàng đã giao hàng nhưng không ký nhận đơn và thất lạc có giá trị 22.483.740 đồng). Qua đối chất giữa Lê Văn H và Trần Thành L xác định sau khi nhận 10 đơn hàng trên tại kho, H đã giao đến cho khách hàng tuy nhiên khách hàng không nhận nên H đã trả lại kho. Ông L thừa nhận sau khi H trả hàng lại kho, quá trình quản lý kho còn nhiều thiếu sót nên đã bị thất lạc đối với các đơn hàng trên. Vì vậy, Lê Văn H không chiếm đoạt đối với 10 đơn hàng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[2.5] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 15 tháng 10 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14-02-2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hứa Tấn Chỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về tham ô tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger