|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 20-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phúc.
- Ông Lò Văn Thôn.
-
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La.
-
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Quàng Văn Cuộc – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025, đối với bị cáo:
Cà Văn C, tên gọi khác: Không, sinh năm 2005; nơi cư trú: Bản P, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Cà Văn H và con bà: Lường Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Sông Mã từ ngày 22/7/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vì Thị T1, sinh 1983; nơi cư trú: Bản S, xã S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 22 tháng 7 năm 2025, tổ công tác Công an xã S phối hợp với Đồn Biên phòng N1 làm nhiệm vụ phòng, chống ma túy tại khu vực bản S, xã S, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Cà Văn C, sinh năm 2005, trú tại bản Pục, xã C, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.Thu giữ tại túi quần bên trái C đang mặc 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 08 viên nén màu hồng, C khai nhận là viên H1 phiến cất giấu để sử dụng. Ngoài ra, còn tạm giữ của C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn vàng – nâu, có BKS 26B2-676.68, đã cũ qua sử dụng.
Cùng ngày, tại Phòng K Công an tỉnh S đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của C, kết quả: 08 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,76 gam, trích 02 viên có tổng khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu C. Vật chứng còn lại 06 viên nén có tổng khối lượng 0,57 gam là vật chứng lưu kho ký hiệu L.
Tại bản kết luận giám định số 849/KL-KTHS ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,76 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình Điều tra xác định được như sau:
Cà Văn C là phụ xe khách tuyến Số P - Hải Phòng. Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 22/7/2025, Cà Văn C mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda có BKS 26B2-676.68 của chị Vì Thị T1, sinh năm 1983, trú tại bản S, xã S, tỉnh Sơn La đi từ khu nhà trọ thuộc bản Sốp Nặm để đi tìm mua ma túy sử dụng, khi đi C đem theo số tiền 600.000 đồng (là tiền do C lao động mà có), khi C đi đến khu vực sau nghĩa trang L thuộc bản S, xã S thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đang đứng ở ven đường, C dừng xe nói chuyện hỏi mua ma túy loại Hồng phiến thì người này nói có bán, C đưa số tiền 600.000 đồng cho người này, người đàn ông nhận tiền rồi lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 08 viên Hồng phiến, C nhận lấy gói Hồng phiến và cất trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe về xóm trọ để trả xe cho chị T1. Khi C đang trên đường về thuộc bản S, xã S thì bị tổ công tác Công an xã S phối hợp với Đồn Biên phòng N1 làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Cáo trạng số: 12/CT-VKS-KV3 ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, truy tố Cà Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15).
Tại phiên toà:
-
- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vì Thị T1 có ý kiến: Chiếc xe mô tạm giữ của bị cáo là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị, việc bị cáo mượn xe đi phạm tội thì chị không biết và không liên quan. Nay đề nghị xin lại chiếc xe mô tô để sử dụng.
-
- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15). Xử phạt bị cáo từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 08 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nên phải chịu án phí theo quy định chung; Trả lại chiếc xe mô tô cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng khác xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh:
-
- Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ căn cứ chứng minh: Ngày 22/7/2025, bị cáo Cà Văn C bị tổ công tác Công an xã S, tỉnh Sơn La và Đồn Biên phòng N1 bắt quả tang về hành vi cất giấu 08 viên Hồng phiến - Theo kết luận giám định là ma túy, thuộc loại Methamphetamine có khối lượng 0,76 gam. Mục đích để sử dụng cá nhân.
-
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến do công an xã S lập hồi 14 giờ ngày 22/7/2025. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Cà Văn C đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, việc khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bức xúc trong nhân dân.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
-
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và căn cứ vào khối lượng ma tuý bị cáo, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.
[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
-
- Số ma túy thu giữ được trong vụ án, theo bị cáo khai mua được từ một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đang đứng ở ven đường gần nghĩa trang L, thuộc bản Sốp Nặm, xã S vào ngày 22/7/2025. Nhưng do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan Điều tra không có cơ sở để Điều tra mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
-
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 26B2-676.68 tạm giữ của bị cáo. Qua điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu và đăng ký mang tên chị Vì Thị T1, khi bị cáo mượn xe thì bị cáo nói đi công việc nên chị T1 không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng của vụ án khác. Tại phiên tòa, chị Tiên đề N xin lại chiếc xe để sử dụng nên cần xem xét trả lại cho chị T1.
- Bị cáo không thuộc đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế hoặc đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy. Do đó, bị cáo không thuộc chủ thể của tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ theo Luật số 86/2025/QH15).
[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 0,57 gam Methamphetamine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[8] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.
[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ theo Luật số 86/2025/QH15).
Tuyên bố bị cáo Cà Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Cà Văn C 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,57 gam Methamphetamine và 01 túi nilon màu hồng đựng trong 01 túi nilon màu trắng ký hiệu L. Toàn bộ được đựng trong 01 (một) Phong bì do Bưu điện V phát hành đã được niêm phong kín;
-
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vì Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Lead, loại xe tay ga, màu sơn vàng - nâu biển kiểm soát 26B2-676.68.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 10 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La và biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2025 giữa Phòng THADS khu vực 3-Sơn La và Công an tỉnh S).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 20/11/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lường Văn Quyết |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Văn C Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
