Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

Tỉnh Bến Tre

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 12-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vũ
  • Ông Nguyễn Thanh Phong
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thị Hồng Xuyến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HSST, ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/HSST-QĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1983 tại huyện T, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số nhà E, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Ẩ, sinh năm: 1940 (đã chết) và bà Đoàn Thị T, sinh năm: 1945 (đã chết); H và tên vợ: Mai Hồng T1, sinh năm 1983; Tiền án: Không. Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 129/QĐ – XPHC ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với số tiền 2.500.000 đồng (đã nộp phạt vào ngày 18/10/2024).

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/12/2024 cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại tòa.

  • - Bị hại: Thái Quốc N, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số nhà C, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Đỗ Tấn T2, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số nhà A, Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Nguyễn Văn B1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Vào sáng ngày 15 tháng 10 năm 2024, Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô biển số 71K2 – 6576 xe do B mượn của anh ruột là ông Nguyễn Văn B1 dùng làm phương tiện đi làm thuê di chuyển trên Huyện L để tìm cửa hàng mua xe máy cũ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường điều khiển xe về nhà ở ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre, khi đi ngang ao nuôi tôm công nghiệp của ông Thái Quốc N, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre cách Huyện lộ 93 khoảng 30m, B nhìn thấy ao nuôi tôm công nghiệp không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. B dừng xe lại, đỗ xe cặp lề đường Huyện lộ 93 rồi đi bộ đến ao nuôi tôm thì thấy có 01 mô tơ điện. Bum đi trở ra nơi đỗ xe mô tô, lấy cờ lê số 17, kìm có sẵn trong cốp xe và đi vào ao đến vị trí gắn mô tơ điện. Bum tháo dây ràng thùng xốp đậy mô tơ rồi dùng cờ lê tháo mô tơ ra khỏi giàn sắt xi, dùng kìm cắt 03 sợi dây điện nối với mô tơ rồi mang mô tơ ra ngoài, nhặt bao đựng thức ăn tôm gần đó để mô tơ vào bên trong bao rồi ôm ra để lên ba ga trước của xe mô tô và điều khiển về Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre, bán mô tơ trộm được cho ông Đỗ Tấn T2 làm nghề sửa chữa máy, mô tơ, mua đi bán lại mô tơ cũ với số tiền là 550.000 đồng. Ngày 16 tháng 10 năm 2024, ông T2 đã bán mô tơ trên cho một người khách lạ mặt, không rõ nhân thân, lai lịch với giá 700.000 đồng. Ngày 17 tháng 10 năm 2024, ông N phát hiện bị mất trộm tài sản và đến Công an xã A trình báo. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra ngày 22 tháng 11 năm 2024.

Vật chứng, tài sản thu giữ được gồm: 01 xe mô tô hai bánh biển số 71K2 – 6576, kiểu dáng Wave đỏ, theo giấy đăng ký xe có số máy: 52FMH – 310137743, số khung: PCH00418 – 010874, qua giám định xe có số máy là 1P52FMH310137743, số khung thực tế là RNDWCH1ND61C00031 đã qua sử dụng. Riêng mô tơ bị chiếm đoạt bị cáo đã bán cho người khác; bao, cờ lê số 17 và kìm dùng làm công cụ thực hiện hành vi lấy trộm, B đã làm rơi trên đường chở mô tơ đi bán nên không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL – HĐĐGTS ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Bến Tre kết luận: tại thời điểm ngày 15 tháng 10 năm 2024, 01 máy mô tơ nhãn hiệu Bảo Long, loại 3HP (động cơ ba ngựa) đã qua sử dụng trị giá 550.000 đồng.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, Nguyễn Văn B đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Thái Quốc N với số tiền 1.500.000 đồng theo yêu cầu. Ông N đã nhận đủ tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn B.

Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSTP-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có quan điểm không khác Cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  • - Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Văn B không có thu nhập, nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thái Quốc N đã nhận đủ số tiền yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là 1.500.000 đồng. Bị hại Thái Quốc N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Tấn T2, Nguyễn Văn B1 không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
  • - Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo thẩm quyền đối với: 01 xe mô tô hai bánh biển số 71K2 – 6576, kiểu dáng Wave đỏ, theo giấy đăng ký xe có số máy: 52FMH – 310137743, số khung: PCH00418 – 010874, qua giám định xe có số máy là 1P52FMH310137743, số khung thực tế là RNDWCH1ND61C00031 đã qua sử dụng, do đây là phương tiện thuộc diện cấm lưu hành (lắp ráp số khung của xe khác).

Vật chứng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSTP-HS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.

Bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn B đang có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng với động cơ tư lợi cá nhân và thái độ xem thường pháp luật, nên vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre Nguyễn Văn B đã lén lút chiếm đoạt 01 mô tơ điện nhãn hiệu Bảo Long loại 03HP của ông Thái Quốc N. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 550.000 đồng, nên bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSTP-HS, ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đây là tình tiết được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. [6] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng mức phạt tù không quá 03 năm. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã dùng làm tình tiết định tội và ngoài lần phạm tội này, bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng đến 05 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét thấy khi không áp dụng hình phạt tù bị cáo vẫn có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Từ những phân tích trên nhận thấy bị cáo đã đáp ứng đủ các điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bị cáo không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  7. [7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Văn B không có thu nhập, nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  8. [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.
  9. [9] Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: xét thấy cần thiết giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo thẩm quyền đối với: 01 xe mô tô hai bánh biển số 71K2 – 6576, kiểu dáng Wave đỏ, theo giấy đăng ký xe có số máy: 52FMH – 310137743, số khung: PCH00418 – 010874, qua giám định xe có số máy là 1P52FMH310137743, số khung thực tế là RNDWCH1ND61C00031 đã qua sử dụng, do xe thuộc diện cấm lưu hành (lắp ráp số khung của xe khác).
  10. [10] Đối với Đỗ Tấn T2 là người làm nghề sửa chữa máy, mô tơ và mua bán mô tơ cũ. Khi mua mô tơ từ Nguyễn Văn B, ông T2 không biết tài sản đó là do trộm cắp mà có và cũng không có hành vi thỏa thuận, bàn bạc, thống nhất, giúp sức hay xúi giục Bum trộm cắp tài sản nên không có cơ sở xử lý đối với hành vi của ông T2.
  11. [11] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phân tích hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, hậu quả, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với tính khách quan của vụ án, đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  12. [12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/6/2025.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.
  4. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  5. Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo thẩm quyền đối với: 01 xe mô tô hai bánh biển số 71K2 – 6576, kiểu dáng Wave đỏ, theo giấy đăng ký xe có số máy: 52FMH – 310137743, số khung: PCH00418 – 010874, qua giám định xe có số máy là 1P52FMH310137743, số khung thực tế là RNDWCH1ND61C00031 đã qua sử dụng.

    Vật chứng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSTP-HS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.

  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Công an tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Thạnh Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
  • - UBND xã B;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Thị Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger