|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh và ông Tẩn A Sếnh.
Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn – Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn T; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1986; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản Pa Nậm Cúm, xã P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Lù Văn K, đã chết và con bà Lò Thị X, sinh năm 1958; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Vàng Thị N, sinh năm 1988, đã ly hôn; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án hình sự số 49/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Lù Văn T 07 năm 06 tháng tù. Ngày 09/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, hiện nay chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025, tạm giam từ ngày 09/8/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 06/8/2025, bị cáo Lù Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực cửa khẩu M tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đang đi trên đường thuộc Quốc lộ A thuộc bản Pa Nậm C, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine bị cáo cất giấu trong lòng bàn tay rồi đi về nhà. Đến 17 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi trên đường thuộc bản Pa Nậm C, xã P thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn T có tổng khối lượng là 0,17 gam, là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKSKV3 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì niêm phong đã mở.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào hồi 17 giờ ngày 06/8/2025 tại bản Pa Nậm Cúm, xã P, tỉnh Lai Châu, Lù Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là 0,17 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù là chưa đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm cũng như giáo dục, cải tạo bị cáo, do bị cáo đã từng bị xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” năm 2017 và mới chấp hành án phạt tù xong năm 2023 và chưa được xóa án tích mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đã thể hiện bị cáo không chịu tu dưỡng, giáo dục, rèn luyện, coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Viện kiểm sát.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể tại bản án hình sự số 49/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (cũ), áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Lù Văn T 07 năm 06 tháng tù. Ngày 09/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, hiện nay chưa được xóa án tích. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trong và ngoài địa bàn gây mất án ninh trật tự tại địa bàn.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ học vấn là không biết chữ. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự với tình tiết là “Tái phạm”.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,17 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.
Vật chứng còn lại gồm:
- 01 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở là các vật bị cáo dùng để gói số Heroine mà bị cáo đã tàng trữ, là công cụ dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Sau khi bắt bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm và xác định trong nước tiểu của bị cáo có chất ma túy, tuy nhiên hành vi của bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không đề cập xử lý là đúng quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù Văn T 03 năm 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 22/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đoàn |
6
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lù Văn Th
