Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày: 09-4-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Dũ

Ông Lê Văn Thưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Diễm T, sinh năm 1987. Nơi sinh: Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...]. Ngày cấp: 17/02/2023. Nơi cấp: Cục C về TTXH.

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 10/12.

Con ông Lê Văn T1, sinh năm 1963 và bà Lâm Thị Liễu T2, sinh năm 1962.

Bị cáo có chồng tên Nguyễn Thanh T3, có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án: 02.

- Ngày 11/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, phạt 06 (sáu) tháng tù theo bản án số 41/2024/HS-ST.

- Ngày 09/12/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 (chín) tháng tù theo bản án số 179/2024/HS-ST.

Tiền sự: 01. Ngày 01/7/2024, bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 126/QĐ-XPVPHC, đã đóng phạt ngày 02/7/2024.

Đặc điểm nhân thân: Ngày 13/12/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Bến Tre khởi tố điều tra về tội trộm cắp tài sản theo Quyết định khởi tố bị can số 134/QĐ-ĐTTH.

Bị cáo đang mang thai sống khoảng 31 tuần trong tử cung theo Kết quả siêu âm ngày 25/3/2025 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A – Cục C1 – Bộ C2. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Thúy O, sinh năm 1985. (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  3. Chị Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1978. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Minh T4, sinh năm 1983. (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu phố B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1983. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với ý định đi tìm tài sản để trộm cấp, ngày 27/11/2024, bị cáo Lê Thị Diễm T điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63V1-5350, nhãn hiệu MIKADO đi một mình từ nhà đến ấp K, xã P, huyện T. Đến 13 giờ 38 phút, bị cáo đến tiệm G cặp tỉnh lộ 867 tọa lạc ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang do chị Nguyễn Thị Thúy O làm chủ. Bị cáo quan sát, phát hiện bên trong tiệm gạo không có người trông giữ tiệm nên dừng xe trước cửa tiệm, tắt máy rồi bước vào bên trong tiệm G có chất nhiều bao gạo, lén lút bước đến chiếc bàn ở bên trong tiệm để lục lọi tìm tài sản nhưng không có tài sản gì. Bị cáo bước ra cửa tiệm quan sát xung quanh một lần nữa rồi quay vô lén lút khiêng trộm lần lượt 05 (năm) bao gạo loại 25kg/bao, trong đó: 04 (bốn) bao gạo Nàng H1, và 01 (một) bao gạo Thơm Lài, đem ra chất lên xe 63V1-5350. Trong khi khiêng tài sản trộm chất lên xe, bị cáo dùng một sợi dây ràng màu xanh – vàng - đen, loại dây co giãn, hai đầu sợi dây có móc kim loại để cột cố định 02 bao gạo ở yên xe, số bao còn lại chất ở barga xe, rồi điều khiển phương tiện chở tài sản chạy đi.

Bị cáo chở 5 (năm) bao gạo vừa trộm được của cửa hàng gạo Út H2 đến tiệm gạo Tâm V tọa lạc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang do anh Lê Minh T4 làm chủ, bị cáo bán 5 (năm) bao gạo trên cho anh T4 thu được số tiền là 1.812.000 đồng. Bị cáo dùng số tiền này để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đến hơn 14 giờ cùng ngày chị O phát hiện mất 05 (năm) bao gạo nên trình báo Công an xã P. Bằng biện pháp nghiệp vụ, Công an xã P phát hiện bị cáo Lê Thị Diễm T là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên nên đã mời làm việc, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra phát hiện bị cáo là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/9/2024 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Cụ thể, khoảng 09 giờ ngày 13/9/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63S8-1343, màu đỏ, kiểu dáng Wave đi một mình đến tạp hóa T5 tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang do chị Huỳnh Thị Mỹ H làm chủ, bên trong tiệm có chất nhiều thùng bia. Bị cáo dừng xe trước cửa tiệm, lén lút vào trong bước đến chỗ chất các thùng bia và khiêng trộm tổng cộng 06 (sáu) thùng bia nhãn hiệu Heineken, trong đó: 04 (bốn) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon cao, thùng 24 lon, dung tích 330ml/lon và 02 (hai) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon nhỏ, thùng 24 lon, dung tích 250ml/lon đem ra chất lên xe. Một vài thùng bia, bị cáo sử dụng một sợi dây ràng màu vàng – xanh – đen, hai đầu có móc kim loại dùng để cột cố định trên yên xe, số thùng bia còn lại để ở trên barga, rồi điều khiển xe chạy đi. Trên đường về đến chợ V1 xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo đã bán số thùng bia này cho người không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền là 2.000.000 đồng, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 534/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tổng giá trị của 04 (bốn) bao gạo Nàng H1, trọng lượng mỗi bao là 25kg và 01 (một) bao gạo Thơm Lài trọng lượng 25kg tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/11/2024 là 2.500.000 đồng. Tại Thông báo giá tài sản số: 809/TB-PTCKH ngày 27/12/2024 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, xác định: Giá trị tài sản gồm 04 (bốn) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon cao, thùng 24 lon, dung tích 330ml/lon và 02 (hai) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon nhỏ, thùng 24 lon, dung tích 250ml/lon bị chiếm đoạt ngày 13/9/2024 là 2.520.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong hai vụ trộm do bị cáo T thực hiện là 5.020.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ:

  • 04 (Bốn) bao gạo Nàng H1, trọng lượng 25kg/bao và 01 (Một) bao gạo Thơm Lài, trọng lượng 25kg.
  • 01 (Một) Xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu MIKADO, kiểu dáng Wave alpha; phía trước có gắn bội màu đen; biển số: 63V1-5350; số khung: VTTWCH0E4UM002750; số máy: VTTJL1P52FMHN002750, xe cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) Nón bảo hiểm, màu trắng, phần lưỡi trai màu đen; phía sau nón có chữ "NON VIET". Nón cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) Áo khoác vải, màu sọc xanh - trắng, loại áo dài tay. Áo cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) Áo khoác vải, màu đỏ, loại áo dài tay, trên ngực áo bên trái có chữ “adidas”. Áo cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) bộ quần áo vải, màu hồng. Quần, áo cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) đôi dép nhựa, màu xám; Dép cũ đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) Sợi dây ràng màu: Xanh - Đen, chiều dài 1,68m, chiều rộng: 05cm; hai đầu sợi dây có gắn móc bằng kim loại, đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) Sợi dây ràng màu: Vàng - xanh - đen, chiều dài 1,62m; rộng: 2,5cm; hai đầu có gắn móc bằng kim loại, đã qua sử dụng.
  • Tiền Việt Nam đồng: 760.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo T.
  • 04 (Bốn) đoạn Video Clip ghi lại diễn biến vụ trộm ngày 27/11/2024 tại tiệm G tọa lạc ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, được trích xuất từ camera an ninh do bị hại Nguyễn Thị Thúy O cung cấp.
  • 01 (Một) đoạn Video Clip ghi lại diễn biến vụ trộm ngày 13/9/2024 tại tiệm T6 tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, được trích xuất từ camera an ninh do bị hại Huỳnh Thị Mỹ H cung cấp.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô 02 bánh biển số 63S8-1343, màu đỏ, kiểu dáng Wave. Hiện tại phương tiện này, Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Bến Tre tạm giữ để điều tra trong một vụ án khác do bị cáo Lê Thị Diễm T thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị Thúy O đã nhận lại 05 (năm) bao gạo, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường với số tiền bồi thường như sau:

  • Số tiền 2.000.000 đồng bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị Mỹ H. Chị H đã nhận số tiền bồi thường trên, không yêu cầu bồi thường gì khác.
  • Số tiền 1.812.000 đồng bồi thường cho anh Lê Minh T4. Anh T4 đã nhận số tiền bồi thường này, không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTP ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Phước để xét xử đối với bị cáo Lê Thị DIễm T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã thẩm tra, công bố các tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan trong hồ sơ đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó có cơ sở xác định bị cáo Lê Thị Diễm T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại, bị cáo đang mang thai sống khoảng 31 tuần tuổi nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại Điểm b, Điểm n, Đ s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm được quy định tại Điểm g, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm b, Điểm n, Đ s Khoản 1 Điều 51, Điểm g, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm T từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Đồng thời tổng hợp hình phạt với bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đó, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định.

Đối với số tiền 760.000 đồng thu giữ của bị cáo T. Đây là tiền cá nhân của bị cáo, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và người liên quan xong, không ai yêu cầu gì khác nên đề nghị hoàn trả lại số tiền này cho bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại Đơn xin vắng mặt ngày 31/3/2025, bị cáo giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Do bị cáo đang chấp hành án và đang mang thai nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, của Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.

[2]. Về sự vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên tòa:

[2.1]. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam A và hiện đang mang thai sống khoảng 31 tuần. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, việc bị cáo vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.

[2.2]. Các bị hại và người liên quan chị O, chị H, anh T3, anh T4 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố những người này cũng đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì khác, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Qua thẩm tra, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người liên quan, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 11/CT-VKSTP ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, ý thức xem thường pháp luật, đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết chấp hành nghiêm pháp luật và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo an toàn trật tự xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có 01 (một) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, đang được hoãn thi hành án do đang mang thai. Đến ngày 27/11/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại và khi phạm tội bị cáo đang mang thai nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, Điểm n, Đ s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.

[4.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4.3]. Về tổng hợp hình phạt và thời hạn chấp hành án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã tuyên phạt bị cáo Lê Thị Diễm T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 15 (mười) lăm tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Trong thời gian được hoãn chấp hành án do bị cáo đang mang thai, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã bắt bị cáo để đi chấp hành án vào ngày 06/12/2024. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp hình phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án và thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang bắt để đi chấp hành án là ngày 06/12/2024.

[5]. Về vật chứng:

[5.1]. Đối với 04 (bốn) bao gạo Nàng H1, loại 25kg/bao và 01 (một) bao gạo Thơm Lài loại 25Kg, ơ quan điều tra đã thu hồi được và trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Thúy O. Chị O đã nhận xong, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.2]. Đối với các đồ vật, tài sản gồm: 01 (một) Nón bảo hiểm, màu trắng, phần lưỡi trai màu đen; phía sau nón có chữ "NON VIET"; 01 (Một) Áo khoác vải, màu sọc xanh - trắng, loại áo dài tay; 01 (Một) Áo khoác vải, màu đỏ, loại áo dài tay, trên ngực áo bên trái có chữ “adidas”; 01 (Một) bộ quần áo vải, màu hồng; 01 (Một) đôi dép nhựa, màu xám và 01 (một) ới sợi dây ràng màu xanh - đen, chiều dài 1,68m, chiều rộng: 05cm; hai đầu sợi dây có gắn móc bằng kim loại. Qua điều tra, xác định được các đồ vật này là đồ dùng cá nhân của bị cáo không liên quan đến hai vụ trộm bị cáo đã thực hiện, nên cơ quan điều tra đã xử lý bằng cách trả lại cho Lê Thị Diễm T, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.3]. Đối với 01 (một) sợi dây ràng màu: Vàng - xanh - đen, chiều dài 1,62m; rộng: 2,5cm; hai đầu có gắn móc bằng kim loại được T sử dụng làm công cụ. Phương tiện phạm tội, cần thiết tịch thu tiêu hủy.

[5.4]. Đối với xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu MIKADO, kiểu dáng Wave alpha; phía trước có gắn bội màu đen; biển số: 63V1-5350; số khung: VTTWCH0E4UM002750; số máy: VTTJL1P52FMHN002750 được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua điều tra, phương tiện này là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1983, ngụ tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang – là chồng của bị cáo. Việc bị cáo lấy xe trên dùng làm phương phạm tội, anh T3 hoàn toàn không biết, anh T3 có đề nghị xin nhận lại tài sản. Cơ quan điều tra đã xử lý bằng cách trả lại phương tiện 63V1-5350 cho anh Nguyễn Thanh T3, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.5]. Đối với 04 (bốn) đoạn video clip trích xuất từ camera an ninh do chị Nguyễn Thị Thúy O cung cấp và 01 (một) đoạn video clip do chị Huỳnh Thị Mỹ H cung cấp ghi lại diễn biến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[5.6]. Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63S8-1343, màu đỏ, kiểu dáng Wave, là phương tiện phạm tội bị cáo sử dụng để trộm bia tại cửa hàng tạp hóa của bị hại chị Huỳnh Thị Mỹ H. Hiện tại phương tiện này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đang tạm giữ để điều tra trong một vụ án khác do bị cáo Lê Thị Diễm T thực hiện, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.7]. Đối với số tiền 760.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo, đây là tiền cá nhân của bị cáo không phải tiền thu lợi bất chính. Quá trình điều tra, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và người liên quan xong, không ai yêu cầu gì khác nên cần thiết hoàn trả lại số tiền này cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

[6.1]. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 04 (bốn) bao gạo Nàng H1, loại 25kg/bao và 01 (một) bao gạo Thơm Lài loại 25Kg mà bị cáo đã bán tại tiệm gạo Tâm V để hoàn trả cho bị hại chị Nguyễn Thị Thúy O. Chị O đã nhận lại, không yêu cầu gì nên không xem xét.

[6.2]. Theo thông báo định giá, giá trị tài sản gồm 04 (bốn) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon cao, thùng 24 lon, dung tích 330ml/lon và 02 (hai) thùng bia Heineken trắng - bạc, loại lon nhỏ, thùng 24 lon, dung tích 250ml/lon tại thời điểm ngày 13/9/2024 là 2.520.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thanh T3 là chồng của bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 2.000.000 đồng, chị H đã nhận đủ số tiền 2.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.3]. Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Minh T4 là chủ tiệm gạo Tâm V có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.812.000 đồng là số tiền anh T4 đã mua 05 (năm) bao gạo của bị cáo. Ngày 25/12/2024, anh Nguyễn Thanh T3 là chồng của bị cáo đã tự nguyện hoàn trả cho anh T4 xong, anh T4 không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[6.4]. Đối với số tiền 3.812.000 đồng, anh Nguyễn Thanh T3 tự nguyện bồi thường cho chị H và anh T4 thay cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Đối với anh Lê Minh T4 là người đã nhận mua tài sản do trộm cắp mà có là 05 (năm) bao gạo từ bị cáo. Tuy nhiên, anh T4 không có quen biết, hứa hẹn gì trước, khi nhận mua số tài sản này anh T4 hoàn toàn không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự với anh T4 là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và những người liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

[10]. Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Diễm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. * Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50, Điểm b, Điểm n, Đ s Khoản 1 Điều 51, Điểm g, Đ h Khoản 1 Điều 52 và Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù giam. Tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù tại Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 và Quyết định thi hành án số 208/2024/QĐ-CA ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt để đi chấp hành án ngày 06/12/2024.

  3. Về vật chứng:
  4. * Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) sợi dây ràng màu: Vàng - xanh - đen, chiều dài 1,62m; rộng: 2,5cm; hai đầu có gắn móc bằng kim loại, đã qua sử dụng. Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước.

    - Hoàn trả lại số tiền 760.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bị cáo Lê Thị Diễm T. Hiện số tiền này đang được gửi giữ tại tài khoản số 3949.0.9091600 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước mở tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo Ủy nhiệm chi của Công an huyện T lập ngày 27/02/2025.

  5. Về án phí:
  6. * Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Lê Thị Diễm T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. * Áp dụng các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo, Người bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng Hồ sơ CAT. Tiền Giang;
  • - CQCSĐT CAT. Tiền Giang;
  • - CQTHAHS CAT. Tiền Giang;
  • - Trại giam An Phước;
  • - VKSND huyện Tân Phước;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Thị D T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger