|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 09 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Liêu Văn Lộc;
- Ông Ngô Phúc .
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 09/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/HSST ngày 18/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 25/3/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh năm: 1989, tại An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hoà Hảo; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; con bà Nguyễn Thị Thu T (chết); chung sống như vợ chồng với Trần Mai T1; có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 cho đến nay.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn T2 (tên gọi khác: C), sinh năm: 1981, nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Em Trần Thành T3, sinh năm 2008;
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của em Trần Thành T3: Ông Võ Thanh L, sinh năm 1979, cùng cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Em Trần Quốc K, sinh năm 2008;
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của em Trần Quốc K: Bà Trần Thị Mộng T4, sinh năm 1980, cùng cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1957, nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Nguyễn Văn T5, Nguyễn Hồng D.
Bị cáo có mặt, người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 28/8/2024, Nguyễn Văn P rủ Trần Quốc K (sinh ngày 14/10/2008), Trần Thành T3 (T6, sinh ngày 05/10/2008) đi tìm tài sản lấy trộm. K và T3 đồng ý. Phim điều khiển xe mô tô biển số 67H5 - 1351 chở K và T3 đi từ đò “Nhà Thí” đến nhà Nguyễn Văn T2 (C), thuộc ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau đó, P kêu T3 chạy xe về còn P cùng với K trèo lên nóc nhà, cạy tôn và la phông vào nhà của T2. Phim và K lấy bọc nilon gần đó, bỏ tài sản vào bọc nilon. Trong lúc tìm lấy tài sản, K làm phát ra tiếng động lớn. Sợ bị phát hiện nên P không cho K lấy tài sản nên K vào phòng kế bên nằm ngủ. Phim lấy bộ lư đồng trên bàn thờ để vào sọt nhựa. Lát sau, P kêu K thức dậy, cùng P lấy 02 ti vi màn hình phẳng để lên nệm, dùng mền quấn 02 ti vi để vận chuyển. Lúc này trời sáng, do sợ bị phát hiện nên P và K lấy một cái bọc đựng 10 huy chương bóng đá, 300.000 đồng, 02 chai rượu xiêm, 02 chai rượu Hennessy, 01 chai rượu nho và 03 nón kết. Phim nói K những tài sản còn lại để hôm sau trở lại lấy tiếp. Phim và K đi bộ qua bến đò số 4 thuộc ấp T, xã B, điện thoại cho T3 chạy xe mô tô đến đón P và K về nhà P.
Khoảng 01 giờ ngày 30/8/2024, P rủ K, T3 tiếp tục đến nhà Trường để lấy 02 ti vi tháo xuống trước đó và các đồ vật đã soạn sẵn. K, T3 đồng ý. Phim mượn chiếc xuồng bằng gỗ của Nguyễn Văn K1 đậu dưới sông, bơi đến mé sông N rồi cả nhóm vào nhà Trường. Lúc này, P, T3 và K không thấy 02 ti vi (do T2 phát hiện nên đã đem giấu) nên K kêu T3 lấy bọc nilon màu đỏ đựng tài sản trộm hôm trước, gồm đèn dầu, tô, cối, nồi... Phim đã bỏ vào. Tiền mang bọc nilon cùng P, K đi ra thì bị T2 phát hiện, bắt giữ, trình báo Công an xã B.
Vật chứng thu giữ:
- 01 bộ lư đồng.
- 01 Tivi hiệu S 55 in màu đen, màn hình phẳng, mã sản phẩm: UAS5RU7250KXXV, phiên bản: FE01/URU7400, sản xuất tháng 02/2020.
- 01 Tivi hiệu Samsung 65 in màu đen, màn hình phẳng, mẫu sản phẩm: UA65TU8500KXXV, phiên bản: BB02/UTU8500/UTU8500N-U65TN, sản xuất tháng 02/2020.
- 01 bọc nhựa màu đỏ chứa các tài sản trộm bị phát hiện ngày 30/8/2024, gồm đèn dầu, tô, cối, nồi, ấm trà ...
- 01 xuồng gỗ, dài 4,5 mét, ngang 1,4 mét.
- 01 cây dao thái lan, cán màu xanh, lưỡi sắt, tổng chiều dài 26,5 cm.
- 02 cây leng dài 1,25 mét, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, cán gỗ dài 01 mét.
- 01 túi ba lô màu đỏ - đen.
- 01 nón kết màu rằn ri.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, kính màn hình bị nứt, không gắn sim.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, kính màn hình bị nứt, không gắn sim.
Kết luận định giá tài sản số 40/KL.HĐ ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận:
- 10 huy chương bóng đá, hình tròn có sợi dây nhiều màu khác nhau (chưa thu hồi được), đã qua sử dụng, có giá trị là 10 cái x 50.000 đồng x 100% = 500.000 đồng.
- 05 chai rượu gồm: 02 chai rượu Hennessy, 02 chai rượu sim và 01 chai rượu nho (chưa thu hồi được), chưa qua sử dụng, có giá trị là ((02 chai rượu Hennessy x 950.000 đồng) + (02 chai rượu sim x 200.000 đồng) + (01 chai rượu nho x 200.000 đồng)) x 100% = 2.500.000 đồng.
- 03 nón kết màu xanh và màu trắng, đã qua sử dụng, có giá trị là 03 cái x 30.000 đồng x 50% = 45.000 đồng.
- 01 bộ lư đồng, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 bộ x 4.000.000 đồng x 100% = 4.000.000 đồng.
- 01 Tivi hiệu S 55 in màu đen, màn hình phẳng, mã sản phẩm: UA55RU7250KXXV, phiên bản: FE01/URU7400, sản xuất tháng 02/2020, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 9.500.000 đồng x 20% = 1.900.000 đồng.
- 01 Tivi hiệu Samsung 65 in màu đen, màn hình phẳng, mẫu sản phẩm: UA65TU8500KXXV, phiên bản: BB02/UTU8500/UTU8500N-U65TN, sản xuất tháng 02/2020, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 20.000.000 đồng x 20% = 4.000.000 đồng.
- 01 đèn dầu bằng kim loại, cao 20cm, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 80.000 đồng x 100% = 80.000 đồng.
- 01 tô hình tròn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 5.000 đồng x 100% = 5.000 đồng.
- 01 cối lớn hình tròn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 20.000 đồng x 100% = 20.000 đồng.
- 01 cối nhỏ hình tròn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 10.000 đồng x 100% = 10.000 đồng.
- 01 thuyền buồm bằng thủy tỉnh có chữ: Kỷ niệm mũi Cà Mau, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 300.000 đồng x 100% = 300.000 đồng.
- 01 nồi giữ nhiệt hình tròn màu hồng bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 45.000 đồng x 100% = 45.000 đồng.
- 01 ấm trà hình tròn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 30.000 đồng x 100% = 30.000 đồng.
- 01 bộ Fin pha cà phê bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 30.000 đồng x 100% = 30.000 đồng.
- 01 chân đế đèn măng song bằng Gang, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 115.000 đồng x 100% = 115.000 đồng.
- 01 bình bông hình tròn bằng hạt cườm nhựa, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 95.000 đồng x 100% = 95.000 đồng.
- 01 hộp nhựa hình chữ nhật, bên trong có các đồ vật: 01 kính đeo mắt bằng nhựa, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 100.000 đồng x 100% = 100.000 đồng.
- 02 bộ đũa nhựa, có 40 chiếc, đã qua sử dụng, có giá trị là 02 bộ x 40.000 đồng x 100% = 80.000 đồng.
- 01 dao xếp cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 15.000 đồng x 100% = 15.000 đồng.
- 02 ly hình tròn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 02 cái x 50.000 đồng x 100% = 100.000 đồng.
- 08 bàn chải đánh răng bằng nhựa, đã qua sử dụng, có giá trị là 08 cái x 4.000 đồng x 100% = 32.000 đồng.
- 07 giá nấu canh bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 07 cái x 13.000 đồng x 100% = 91.000 đồng.
- 08 dĩa bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 08 cái x 50.000 đồng x 100% = 400.000 đồng.
- 08 nĩa bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 08 cái x 5.000 đồng x 100% = 40.000 đồng.
- 11 dao bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 11 cái x 25.000 đồng x 100% = 275.000 đồng.
- 01 muỗng bằng Inox hình con cá, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 7.000 x 100% = 7.000 đồng.
- 01 sạn bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 10.000 đồng x 100% = 10.000 đồng.
- 19 muỗng cà phê bằng Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 19 cái x 3.000 đồng x 100% = 57.000 đồng.
- 04 muỗng canh Inox, đã qua sử dụng, có giá trị là 04 cái x 5.000 đồng x 100% = 20.000 đồng.
- 31 muỗng canh Inox cán dài, đã qua sử dụng, có giá trị là 31 cái x 8.000 đồng x 100% = 248.000 đồng.
- 06 muỗng canh Inox cán gỗ, đã qua sử dụng, có giá trị là 06 cái x 10.000 đồng x 100% = 60.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 15.210.000 đồng.
Cáo trạng số 19/CT-VKSCT ngày 17/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã rủ T3 và K1 cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về chăm lo gia đình.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm chứng tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, đề nghị căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 3.345.000 đồng tương ứng với giá trị tài sản bị mất trộm không thu hồi được gồm: 10 huy chương; 05 chai rượu các loại; 03 nón kết và số tiền 300.000 đồng theo kết luận định giá xác định.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao thái lan, 02 cây leng, 01 túi ba lô và 01 nón kết do không còn giá trị sử dụng, là công cụ bị cáo thực hiện tội phạm. Đồng thời giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, không liên quan đến tội phạm bị cáo thực hiện.
Đối với Trần Thành T3, Trần Quốc K là người cùng với bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tại thời điểm thực hiện tội phạm, T3, K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính.
Đối với đối tượng tên M, bị cáo khai cùng thực hiện hành vi lấy trộm máy bơm nước vào ngày 25/8/2024. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch; chưa xác minh được bị hại và tài sản mất trộm chưa thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy tìm, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người chứng kiến và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện nên không đề cập xem xét.
[3] Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt. Xét, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về nội dung:
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, các nguồn chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, diễn biến sự việc như nội dung vụ án thể hiện.
Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo về hành vi đã thực hiện còn phù hợp với vật chứng của vụ án được cơ quan điều tra thu giữ, giao trả lại cho bị hại.
Từ đó, có căn cứ xác định trong các ngày 28/8/2024 và ngày 30/8/2024 bị cáo đã cùng T3, K có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản được xác định là 15.210.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 40/KL.HĐ ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C.
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; xâm phạm quan hệ về sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKSCT ngày 17/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[5] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xem xét tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; xét về nhân thân không có tiền án, tiền sự; không biết chữ nên hạn chế trong nhận thức pháp, do đó có xem xét áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong quyết định hình phạt như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp ổn định, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[7] Vật chứng vụ án:
Đối với 01 cây dao Thái Lan, 02 cây leng, 01 túi ba lô, 01 nón kết không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi và 01 điện thoại di động hiệu OPPO không liên quan đến tội phạm, xét giao trả lại cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tài sản bị mất trộm không thu hồi được số tiền 3.345.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền này, xét buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 3.345.000 Đồng.
[9] Vấn đề khác:
Đối với Trần Thành T3, Trần Quốc K cùng bị cáo thực hiện tội phạm. Tại thời điểm thực hiện, T3, K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tượng tên M, chưa xác định được nhân thân, lai lịch; chưa xác minh được bị hại và tài sản mất trộm chưa thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy tìm, khi đủ căn cứ xử lý sau là phù hợp
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P: 09 (chín) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam: 22/12/2024.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 số tiền 3.345.000 (ba triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 dao Thái Lan, 02 cây leng; 01 túi ba lô; 01 nón kết.
- Giao trả cho bị cáo Nguyễn Văn P: 01 điện thoại di dộng hiệu Redmi màu đen và 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO màu đen (cả hai điện thoại đều không có gắn sim số).
(Đặc điểm, chủng loại, kích thước theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
