Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 17/2025/HS-ST

Ngày 05-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ánh Hồng

Ông Nguyễn Kim Hợp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân – Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 09 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Bùi Tuấn Đ, (tên gọi khác: Bùi Văn Đ1); sinh năm 1985; tại: xã C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]. Con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; có vợ: Bùi Thị D (đã ly hôn) và 02 con.

- Tiền án:

  • + Bản án số 17/2025/HSST ngày 15/04/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt Bùi Văn Đ1 12 tháng tù, tính từ ngày 06/11/2014 về tội "Trộm cắp tài sản" (chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2015).
  • + Bản án số 41/2016 ngày 09/09/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã xử phạt Bùi Văn Đ1 18 tháng tù, tính từ ngày 30/05/2016 về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" (chấp hành xong hình phạt ngày 30/11/2017).

- Tiền sự: Không có.

- Nhân thân:

  • + Quyết định số 249/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của UBND huyện L áp dụng biện pháp cưỡng chế đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn Đ1 thời gian 24 tháng.
  • + Quyết định số 3024/QĐ-UBND ngày 25/11/2011 của UBND huyện L đã áp dụng biện pháp cưỡng chế đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn Đ1 thời gian là 12 tháng.
  • + Quyết định số 18/2020/QĐ-XLHC ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tuấn Đ 24 tháng.
  • + Quyết định số 03/2023, ngày 03/04/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ đã áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tuấn Đ (Bùi Văn Đ1) 24 tháng.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số C - Công an tỉnh P - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/8/2018, Bùi Tuấn Đ gọi điện thoại rủ Lê Tiến H cùng đi mua ma túy để sử dụng (do H và Đ là đối tượng nghiện ma túy, nhiều lần sử dụng chất ma túy cùng nhau). Lê Tiến H đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS: 29L2 - 6782 đi từ nhà ở thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã M, thành phố Hà Nội) lên L, Hòa Bình để đón Đ, còn Đ sau khi gọi điện cho Lê Tiến H xong thì đi bộ ra đường H thuộc xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình (cũ) chờ Hai. Sau khi gặp nhau thì H và Đ sử dụng xe mô tô của H đi đến khu vực đầu đê (không nhớ rõ địa điểm cụ thể) thuộc Ứ, thành phố Hà Nội, để mua ma túy, sau khi mua được 01 gói ma túy, loại Heroine, H điều khiển xe mô tô chở Đ đi đến khu vực nghĩa trang C2 (không rõ địa chỉ cụ thể) thuộc huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã M, thành phố Hà Nội) để sử dụng bằng hình thức tiêm chích. Sau khi sử dụng xong, H và Đ đi vào khu vực thị trấn Đ, huyện M (trước đây), khi đến khu vực cánh đồng ở P, M, Hà Nội (nay là xã M, thành phố Hà Nội) Hai và Đ tiếp tục bỏ một phần ma tuý ra để sử dụng một lần nữa, cũng bằng hình thức tiêm chích. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở H đi theo hướng Quốc lộ B để đi về nhà Đ. Khi đi đến địa phận Chợ B, C, L, Hòa Bình (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ) thì Đ dừng xe lại, Đ đi vào nhà người quen để tiền vay mua xăng, nói xong Đ đi bộ vào xóm S còn H ngồi trên xe mô tô, thì bị tổ công tác Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình kiểm tra, bắt quả tang thu giữ: 01 gói lilon bằng vỏ bao xi lanh bên trong có một gói giấy mầu trắng có chứa các cục dạng bột mầu trắng. Lê Tiến H khai nhận là H1.

Tại Kết luận giám định số 200/KLGĐ-CAT-PC54 ngày 14/08/2018 của Phòng K - Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh P), kết luận: "Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong gửi giám định có khối lượng 0,14g là ma túy, loại Heroine".

Quá trình điều tra:

Lê Tiến H khai Đ là người mua H1, mua của ai, bao nhiêu tiền H không biết. Số H1 bị thu giữ là Đ đưa cho H khi dừng xe, H cầm ở tay trái của H, khi bị Công an bắt giữ Hai thả gói Heroin xuống đất. Sau khi được tại ngoại Lê Tiến H thay đổi lời khai Khi dừng xe mô tô lại Đ bảo H cầm gói ma túy còn lại, song H không cầm, Đ để một gói ma túy vào yên xe máy của H và bảo H đợi một lúc rồi bỏ đi, gói ma túy rơi xuống đất.

Bùi Tuấn Đ khai Lê Tiến H là người đi mua ma túy, H mua của ai Đ không biết, Đ góp 100.000 (một trăm nghìn đồng để Lê Tiến H mua ma túy; sau khi sử dụng còn lại H cất giấu và bị công an bắt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HSST, ngày 12/8/2024, Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình (nay là Toà án nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ) đã tuyên bố Lê Tiến H, Bùi Tuấn Đ, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, Điều 38, Điều 17, Điều 58, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Tiến H 20 (Hai mươi) tháng tù; Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Tuấn Đ 05 (năm) năm tù.

Ngày 14/8/2024 bị cáo Lê Tiến H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại do có sai sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, xét xử vụ án.

Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HSPT, ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hòa Bình (nay là Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ) đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tiến H, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 55/2024/HSST ngày 12/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Toà án nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ), trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ) để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, với các lý do: Lời khai của bị cáo Lê Tiến H là không đồng nhất, mâu thuẫn với lời khai của bị cáo Bùi Tuấn Đ mà chưa được làm rõ; quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình tiến hành khám nghiệm hiện trường, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường nhưng không có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân là vi phạm tố tụng, vi phạm Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Tiến H xuất trình chứng cứ mới là bản gốc Biên bản bồi thường, ghi ngày 13/7/2020 và một chiếc USB ghi âm toàn bộ cuộc trao đổi liên quan đến việc giải quyết vụ án tại gia đình bị cáo Lê Tiến H. Những tài liệu này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kết tội các bị cáo mà không thể làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Bùi Tuấn Đ và Lê Tiến H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1, 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Quá trình điều tra lại vụ án, lời khai của Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ còn có một số nội dung mâu thuẫn như sau:

  • - Về nguồn gốc ma tuý thu giữ khi bắt quả tang Lê Tiến H: Lê Tiến H khai, đó là ma tuý của Đ mua, mua của ai Hai không biết; lời khai trong quá trình điều tra lại H khai không rõ ma tuý thu giữ khi bắt quả tang là của ai.
  • Bùi Tuấn Đ khai đó là ma tuý của H mua để cùng sử dụng, mua của ai Đ không biết, sau khi sử dụng còn lại bằng hạt gạo,"H cất giấu và mang theo người cho đến khi bị bắt quả tang.

  • - Về số tiền mua ma tuý: Lê Tiến H khai tiền mua ma tuý là của Đ; Bùi Tuấn Đ khai Đ đưa cho H số tiền 100.000 đồng để góp cùng H mua ma tuý
  • - Về người điều khiển phương tiện đi mua ma tuý: Lê Tiến H khai quá trình từ khi gặp Đ, đi mua ma tuý, mua được ma tuý để sử dụng đến khi bị bắt quả tang thì Đ là người điều khiển xe mô tô của H để chở H; Bùi Tuấn Đ khai, khi đi mua ma tuý và mua được ma tuý đến địa điểm để sử dụng thì H là người chở Đ, đến khi sử dụng ma tuý xong, thấy H cất giấu số ma tuý còn thừa lại thì Đ mới điều khiển xe chở H.
  • - Về quá trình sử dụng ma tuý: Lê Tiến H khai Đ tự cho ma tuý vào bơm kim tiêm rồi chích ma tuý vào cơ thể của H để H sử dụng; Bùi Tuấn Đ khai khi sử dụng ma tuý thì mỗi người tự cho ma tuý vào bơm kim tiêm của mình và tự sử dụng.

Cơ quan điều tra - Công an tỉnh P đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành cho Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ đối chất với nhau, nhưng cả hai bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai.

Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai ban đầu của Lê Tiến H, lời khai của Bùi Tuấn Đ, phương tiện sử dụng là xe máy (xe mô tô) của Lê Tiến H và nội dung ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Nguyễn Thị N, là mẹ đẻ của Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ (nội dung cuộc nói chuyện đã 02 lần được phiên âm thành văn bản (từ BL số 309 đến BL số 311); (từ BL số 851 đến BL số 854) hiện nội dung: "Giọng nữ: thằng Đ nó rủ con, gọi điện con đi chơi, thằng Đ nó bỏ tiền ra mua, ba gói...; G nam:...cháu với nó mua một gói, một gói năm trăm; G nữ: một gói năm trăm nhưng mà dùng mỗi đứa một ít rồi; Giọng nam: dùng nhiều, dùng gần hết rồi, còn có tý; Giọng nữ: Ừ còn có tý, thế là gói vào nhưng cháu vẫn cầm, xong là cháu bảo thằng H cho mượn cái điện thoại...xong là mày dúi cái gói thuốc vào chỗ yên đấy cho thằng H, bảo cầm hộ anh, thế là mày chạy...; G nam: lúc đấy hai anh em chơi thì thằng H phê quá, cháu lai, thằng H vẫn cầm, cháu bảo là để cẩn thận đấy, xong hết xăng...; G nữ: ...mà có một tỷ cũng không đủ khởi tố đâu; Giọng nam: Một tý thôi mà, có đếch đâu bằng hạt gạo, thế làm sao mà đủ khởi tố; Giọng nữ: Rồi, có đủ khởi tố đâu; Giọng nam: Cháu định chơi hết mẹ đi, tại thằng H2 nó không cho hết vào chứ; Giọng nữ: Ừ thế; ...".

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với F video ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Nguyễn Thị N và bị can Bùi Tuấn Đ.

Tại Kết luận giám định số 5434/C09-P6 ngày 09/10/2019 của V - Bộ C3, kết luận: "Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chinh sửa file video cần giám định. File video cần giám định là bản sao. Tiếng nói của người xưng là “cháu” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Bùi Văn Đ1 trong mẫu so sánh là của cùng một người" (Bùi Văn Đ1 và Bùi Tuấn Đ, là cùng một người).

Tại Kết luận giám định số 1226/C09-P6 ngày 13/3/2020 của V - Bộ C3, trả lời Quyết định trưng cầu giám định bổ sung âm thanh, giọng nói đối với đoạn File video, do bà Nguyễn Thị N cung cấp, kết luận: "Tiếng nói của người nam giới trong mẫu cần giám định được nói trong trạng thái tự nhiên, không phát hiện thấy dấu hiệu mệt mỏi, không tỉnh táo hay bị ép buộc".

Cáo trạng số 29/CT-VKSPT-P1, ngày 15/09/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố: Bùi Tuấn Đ, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Lê Tiến H, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 07/10/2025 Lê Tiến H chết, Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với Lê Tiến H.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ đề nghị: Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Tuấn Đ từ 05 năm tù đến 05 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt bắt tạm giam từ ngày 17/5/2024.

Bị cáo Bùi Tuấn Đ đã khai nhận ngày 08/08/2018, Đ gọi điện cho Lê Tiến H, rủ H đi mua ma túy về để sử dụng, sau đó Đ đi ra đường H gặp Hai, cả hai đi đến khu vực Ứ, Hà Nội. Hai để Đ đứng ở đường đợi, Đ đưa cho H 100.000 đồng của Đ để H đi mua ma túy, sau khi mua được ma túy H có trao đổi với Đ là số tiền mua ma túy hết 500.000 đồng. Sau 02 lần sử dụng Đ thấy Hai cất số ma túy còn lại Đ biết là mục đích để cùng nhau sử dụng lần sau. Sau đó cả hai người đi về khu vực Chợ B, xã T thì xe mô tô hết xăng, Đ đi vào nhà anh họ để vay tiền, được một lúc thì nghe tin H bị công an L bắt. Sau đó H được mời đến Công an huyện L làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng

Đối với nội dung quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là Công an tỉnh P) tiến hành khám nghiệm hiện trường, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường nhưng không có sự tham gia của Viện kiểm sát. Hoạt động tiến hành điều tra của Cơ quan điều tra đối với nội dung này là có vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, không ảnh hưởng đến diễn biến khách quan hành vi phạm tội của các bị can; không làm thay đổi bản chất của vụ án vì việc thu giữ vật chứng là ma túy căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, chứ không căn cứ vào quá trình khám nghiệm hiện trường.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy: Bùi Tuấn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm song bị cáo cùng Lê Tiến H mua và sử dụng ma túy, số ma túy còn lại 0,14g loại Heroine đã cùng Lê Tiến H cất giữ với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà Nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích do vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố Phạm Tiến Đ2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo Bùi Tuấn Đ theo quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[3]. Căn cứ tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; căn cứ vào nhân thân của bị cáo cần lên một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về tang vật của vụ án:

Xe mô tô BKS: 29 L2-6782, loại xe Honda Future mầu xanh, chủ sở hữu Lê Tiến H. Hai sử dụng xe chở Bùi Tuấn Đ đi mua ma túy, ngày 08/08/2018. Xác định không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên ngày 17/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình đã trả lại cho Bùi Tiến H3 do vậy không đề cập giải quyết.

  • - 01 (một) phong bì dán kín, một mặt ghi: "0,08g (không phẩy không tám gam) chất bột dạng cục màu trắng (Heroine) 01 (một) gói nilon (dạng vỏ bao xilanh), 01 (một) gói giấy, vỏ phong bì niêm phong và 0,08g (không phẩy không tám gam) chất bột dạng cục màu trắng (Heroine) theo Kết luận giám định số 200 ngày 14/8/2018 của Phòng K Công an tỉnh H cùng vỏ phong bì niêm phong trong phong bì có ghi MẪU GIÁM ĐỊNH MA TUÝ, CBQĐ: Đỗ Thành C1, Ngày niêm phong 15/8/2018. Số nhận giám định số: 200 Ngày 09 tháng 8 năm 2018. Số thông báo KLGĐ: 200 Ngày 14 tháng 8 năm 2018, CQ trưng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện L số: 168 ngày 08 tháng 8 năm 2018. Tên đối tượng Lê Tiến H. Tên mẫu H1. Số lượng 01". Trên các mép dán có chữ ký của đối tượng, các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh H. 01 (một) phong bì phong còn nguyên vẹn, một mặt ghi: “01 (một) gói nilon (dạng vỏ bao xilanh) và 01 (một) gói giấy trong một gói nilon màu trắng viền đỏ cùng vỏ phong bì niêm phong còn lại sau khi giám định vụ tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 08/8/2018 tại Chợ B - C - L - Hòa Bình". Mép dán có dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của giám định viên. Đây là vật dạng nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

[7]. Về các vấn đề khác:

  • - Đối với người bán ma tuý cho Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ: Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ đều khai đổ lỗi cho nhau là người trực tiếp đi mua ma túy nên chưa xác định được người đã bán ma tuý cho các bị can. Do chưa đủ căn cứ để xác minh làm rõ, nên Cơ quan điều tra (PC04) - Công an tỉnh P sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị L và chị Bùi Thị D (là mẹ đẻ và vợ của Bùi Tuấn Đ): Những người này không biết, không có liên quan gì đến hành vi phạm tội của Lê Tiến H và Bùi Tuấn Đ nên không đề cập xử lý trong vụ án.
  • - Ngoài các file (tệp) ghi âm toàn bộ cuộc trao đổi liên quan đến việc giải quyết vụ án tại gia đình Lê Tiến H, còn có bản gốc Biên bản bồi thường, ghi ngày 13/7/2020 có nội dung Trần Khánh T và Nguyễn Thanh H4, là các cán bộ của Cơ quan Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình (nay là Công an tỉnh P) bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị N số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Trong đó: 100.000.000 đồng là tiền gốc và lãi của số tiền 30.000.000 đồng mà T và H4 đã nhận của bà N khi giải quyết cho Lê Tiến H được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; 300.000.000 đồng là số tiền bồi thường 09 ngày đã tạm giữ Lê Tiến H (Biên bản có chữ ký và họ tên đầy đủ của Trần Khánh T và Nguyễn Thanh H4). Các tài liệu, chứng cứ cho thấy có việc các cán bộ của Cơ quan điều tra - Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình (nay là Công an tỉnh P) có hành vi tiêu cực trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án, có dấu hiệu của tội “Nhận hối lộ” quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự, xảy ra trong hoạt động tư pháp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra - Viện kiểm sát nhân dân tối cao nên Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh P) và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ) đã chuyển các thông tin tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy không đề cập giải quyết trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bùi Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng: điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt: Bùi Tuấn Đ 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/5/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy:

    • - 01 (một) phong bì dán kín, một mặt ghi: "0,08g (không phẩy không tám gam) chất bột dạng cục màu trắng (Heroine) 01 (một) gói nilon (dạng vỏ bao xilanh), 01 (một) gói giấy, vỏ phong bì niêm phong và 0,08g (không phẩy không tám gam) chất bột dạng cục màu trắng (Heroine) theo Kết luận giám định số 200 ngày 14/8/2018 của Phòng K Công an tỉnh H cùng vỏ phong bì niêm phong trong phong bì có ghi MẪU GIÁM ĐỊNH MA TUÝ, CBQĐ: Đỗ Thành C1, Ngày niêm phong 15/8/2018. Số nhận giám định số: 200 Ngày 09 tháng 8 năm 2018. Số thông báo KLGĐ: 200 Ngày 14 tháng 8 năm 2018, CQ trưng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện L số: 168 ngày 08 tháng 8 năm 2018. Tên đối tượng Lê Tiến H. Tên mẫu H1. Số lượng 01". Trên các mép dán có chữ ký của đối tượng, các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh H.
    • - 01 (một) phong bì phong còn nguyên vẹn, một mặt ghi: “01 (một) gói nilon (dạng vỏ bao xilanh) và 01 (một) gói giấy trong một gói nilon màu trắng viền đỏ cùng vỏ phong bì niêm phong còn lại sau khi giám định vụ tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 08/8/2018 tại Chợ B - C - L - Hòa Bình". Mép dán có dâu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của giám định viên.

    Tang vật được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/09/2025 giữa bên giao Công an tỉnh P, bên nhận Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc bị cáo Bùi Tuấn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng hồ sơ, Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan T.H.A hình sự CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 13- Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trường Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án về tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger