TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU V C 3 LÀO CAI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày 04-12-2025.
NHÂN DANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà [Tên]
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý [Tên]
- Thư ký phiên tòa: Bà [Tên]
Tòa án nhân dân khu Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông [Tên]
Lào Cai, Ngày 04 tháng 12 năm 2025
Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/HS ngày 20 tháng 11 năm 2025
Bị cáo: Nguyễn Thị V, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1980, tại: Thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai).
Nơi cư trú: Thôn Q, xã M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: [Trình độ]; Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông Nguyễn [Tên] và bà Phòm Thị T1; Có con nhỏ: Nguyễn Thị V, sinh năm 2018; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 8 năm 2025.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn [Tên] (sinh năm 1983)
Địa chỉ: Thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
Theo
Nội dung vụ án: Hồi 7 giờ 15 phút ngày 20/8/2025, tại phòng chống tội phạm Công an xã M, tỉnh Lào Cai, sau khi tiếp nhận và tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Thị A, kết quả dương tính.
Nguyễn Thị A khai nhận đang nghiện chất ma tuý. Bị cáo đã được các chế độ dùng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, tự nguyện điều trị nghiện chất tại Trung tâm Y tế khu vực V theo Quyết định của Chủ tịch UBND, ngày 05/01/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn M, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai). Do có quen biết với Nguyễn V (sinh năm 1983), ở thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai, cũng nghiện ma tuý và có nhu cầu mua ma tuý, nên khoảng 11 giờ ngày [Ngày] tháng [Tháng] năm [Năm], Nguyễn Thị A gọi điện thoại cho T3 hỏi mua ma tuý. T3 đồng ý bán 1 gói ma tuý với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Thực hiện giao dịch, Nguyễn Thị A điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 21E1-367.43 lên xã C gặp T3, cả hai tìm đến nhà Dũng ở ngõ vào thôn A, xã C, tỉnh Lào Cai. Nguyễn Thị A đưa 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) cho T3 mua ma tuý loại heroine. T3 cầm tiền của Nguyễn Thị A gặp và mua ma tuý của một người dân tộc T3 không biết tên, tại địa chỉ nhà Dũng ở ngõ vào thôn A, xã C, tỉnh Lào Cai, với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). T3 mua được 01 gói ma tuý loại Heroine. T3 đưa cho Nguyễn Thị A gói ma tuý loại Heroine. Nguyễn Thị A gói ma tuý chia làm 2 gói nhỏ: 1 gói cho T3, phần còn lại Nguyễn Thị A mang về nhà. Sau khi sử dụng ma tuý xong thì Nguyễn Thị A tự động đến Công an xã M, tỉnh Lào Cai trình báo.
Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Thị A:
Kết luận số 1412/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, kết luận: Trong mẫu tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine;
*Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong nước tiểu.
*Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
*Heroine: Số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-KV3 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố Nguyễn Thị A về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 38 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ máy màu xanh, màn hình cảm ứng, là công cụ bị cáo Nguyễn Thị A dùng liên lạc với Nguyễn T3 nhằm mua ma tuý sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Công an Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, anh [Tên] (sinh năm 1983) vắng mặt.
[3] Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị A nghiện chất ma tuý, đã được điều trị bằng thuốc thay thế, tự nguyện điều trị nghiện chất tại Trung tâm Y tế khu vực V. Tuy nhiên, ngày 19-8-2025, bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine bằng hình thức tiêm chích. Kết luận giám định ngày 21-8-2025 thể hiện: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thế A gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine; Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong nước tiểu. Kết luận: Nguyễn Thị A nghiện chất ma tuý, đã được các chế độ dùng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, tự nguyện điều trị nghiện chất tại Trung tâm Y tế khu vực V. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị A là vi phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an và quản lý, kiểm soát chất ma túy của nhà nước, phá hoại an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải bài trừ. Lên xét xử tại phiên tòa, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thành khẩn hối cải; bị cáo khai báo; bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2006.
Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ máy màu xanh, màn hình cảm ứng, là công cụ bị cáo Nguyễn Thị A dùng liên lạc với Nguyễn T3 nhằm mua ma tuý sử dụng.
[8] Về các vụ khác:
Vụ bán ma túy cho Nguyễn [Tên] (sinh năm 1983) ở thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai, ngoài lời khai của Nguyễn Thị A, không còn tài liệu chứng cứ nào khác để điều tra, xử lý.
Vụ việc đối với Nguyễn [Tên] (sinh năm 1983) nghiện ma túy tại tỉnh Lào Cai (theo Quyết định cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Yên Bái) đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính - Tòa án nhân dân huyện Yên Bái ngày 23/10/2024.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[10] Những người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan đến vụ án không có ý kiến gì tại phiên toà.
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 08 năm 2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 11 năm 2025 lúc 5 giờ 30 phút tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Lào Cai).
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;
- - VKSND tỉnh Lào Cai;
- - VKSND khu vực 3- Lào Cai;
- - NV Công an tỉnh Lào Cai;
- - Phòng THADS khu vực 3- Lào Cai;
- - Bị cáo;
- - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai;
- - Thi hành án phạt tù;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị [Tên]
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 LÀO CAI về tội sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế A phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
