|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 04/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lê Quang Chính.
2.Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê–Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/HSST ngày 16/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025 đối với:
Bị cáo Nguyễn Ngọc H -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc B-sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T-sinh năm 1980; Tiền sự: không;
Tiền án: Bị Toà án huyện N-Ninh Thuận, xử phạt 04 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 12/2019/HSST ngày 24/7/2019. Đến ngày 12/6/2022 H chấp hành xong án phạt tù về địa phương.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/6/2024 chuyển Tạm giam đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (khu vực N).
-Người làm chứng:
- +AnhTrương Văn N -sinh năm 2002, trú tại khu phố A, phường V, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
- +Anh Nguyễn Hải K -sinh năm 1997, trú tại khu phố A, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
- +Anh Nguyễn L -sinh năm 1998, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
- +Anh Nguyễn Thành D -sinh năm 2003, trú tại khu phố D, phường V, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/6/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh phối hợp Công an phường V tiến hành kiểm tra căn nhà số D T, khu phố A, phường V, thành phố P-T, phát hiện 02 đối tượng là Trương Văn N1 và Nguyễn Hải K đang sử dụng trái phép chất ma túy, đã tạm giữ 01 vỏ chai, trên nắp chai gắn 01 ống hút nước và 01 nõ thủy tinh, trong nõ thủy tinh dính chất màu nâu trắng nghi là chất ma túy (ký hiệu M1). Tạm giữ của K 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Tạm giữ của N1 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu N2 và N1 khai nhận nguồn gốc ma tuý N1 và K sử dụng là mua của Nguyễn Ngọc H.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở tại phòng số 02 khu nhà trọ ông H1 thuộc thôn A, xã A, huyện N, đối với Nguyễn Ngọc H. Qua khám xét tạm giữ: 01 chai nhựa màu trắng và 01 nõ thủy tinh (ký hiệu M2); một chai nhựa; 01 quẹt ga; 03 điện thoại di động gồm hiệu Iphone, hiệu Huawei, hiệu Readme. Qua điều tra xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/5/2024 đến ngày 06/6/2024, H đã nhiều lần bán ma tuý cho Trương Văn N1, Nguyễn Thành D, Đào Nhật T1 và một số đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch tại địa bàn huyện N, cụ thể:
- Nguyễn Ngọc H bán ma tuý cho Nguyễn Thành D 02 lần:
- +Lần 1: Ngày 21/5/2024, D dùng tài khoản zalo tên “Nguyễn Thành D” gọi vào zalo của H tên “Bibi N3” hỏi mua “một góc tám” ma tuý đá, H báo giá 700.000đồng, D xin H cho nợ vài hôm có tiền sẽ trả, H đồng ý. Do D nói không có xe nên H đến nhà đưa cho D 01 gói ma túy.
- +Lần 2: Ngày 24/5/2024, D dùng cách liên lạc như lần mua trước để hỏi H mua “một góc tư” ma túy đá, H báo giá 1.200.000đồng và D xin cho nợ đến ngày 25/5/2024 sẽ trả, H đồng ý và hẹn gặp ở khu công viên T thuộc thôn A, xã A. Lúc này, D đang ở nhà Trương Văn N1 và nhờ N1 chở đi nhận ma túy. H đi xe máy đến điểm hẹn ném gói ma tuý xuống vị trí D và N1 đứng chờ rồi rời đi, D nhặt gói ma túy mang về sử dụng. Đến trưa ngày 25/5/2024, D chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V1 của Danh số 0398360538 vào tài khoản ngân hàng H2 của H số 0858695990 trả nợ mua ma tuý 2 lần là 1.400.000đồng, còn nợ 500.000đồng.
- Nguyễn Ngọc H bán ma tuý cho Trương Văn N1 03 lần:
- +Lần 1: Ngày 01/6/2024, Nguyễn Hải K đến nhà N1 chơi và rủ N1 góp tiền mua ma tuý để sử dụng nhưng N1 không có tiền. K đưa N1 200.000đồng và N1 sử dụng ứng dụng Messenger tên “Trương Văn N1” gọi vào Messenger của H tên “Huy N3” để hỏi mua 01 tép ma tuý với giá 200.000 đồng. H đồng ý và chỉ đường cho N1 đến phòng trọ của H tại thôn A, xã A, để nhận ma tuý. Lúc N1 đến thì thấy H đi bộ từ trong phòng trọ ra đưa cho N1 01 gói ma tuý giấu trong khẩu trang y tế màu trắng, N1 đưa H 200.000đồng. N1 mang gói ma túy về nhà N1, lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và đổ toàn bộ ma túy vừa mua được vào nõ thủy tinh, N1 và K sử dụng hết ma túy.
- +Lần 2: Với cách thức giống lần 1, ngày 05/6/2024 N1 gọi H hỏi mua 01 tép ma tuý với giá 200.000đồng. N1 dùng tài khoản ngân hàng B1 số 8850736646 của mình chuyển vào tài khoản ngân hàng H2 số 0858695990 của H 200.000 đồng. H đưa cho N1 01 gói ma tuý đá dạng tinh thể màu trắng, bên ngoài quấn băng keo màu đen. N1 nhặt tép ma túy rồi mang ma tuý về nhà sử dụng.
- +Lần 3: Ngày 06/6/2024, K và N1 thỏa thuận mua nợ 300.000đồng ma túy đá của H để sử dụng. N1 sử dụng ứng dụng M gọi H hỏi mua 01 tép ma tuý với giá 300.000đồng nhưng xin H cho nợ, H đồng ý và nói N1 đến phòng trọ của H để lấy ma túy, N1 nhận 01 tép ma túy rồi mang về nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đổ toàn bộ ma túy vừa mua được vào nõ thủy tinh, khi N1 và K đang sử dụng ma túy thì có Công an đến kiểm tra phát hiện sự việc.
- Nguyễn Ngọc H bán ma tuý cho Đào Nhật T1 01 lần: Chiều ngày 05/6/2024 tại phòng trọ của H ở thôn A, xã A, H bán cho T1 01 tép ma túy giá 200.000đồng và T1 xin nợ, T1 mang ma tuý về nhà cất giấu. Đến khoảng 15 giờ ngày 06/6/2024, T1 mang tép ma túy trên cùng 01 ống thủy tinh đến nhà Nguyễn L tại khu phố A, phường M-tp . T. T1 dùng bếp ga nhà L làm ống thủy tinh thành nõ thủy tinh rồi gắn vào chai nước thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T1 và L sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện và thu giữ 01 chai nhựa màu trắng gắn 01 ống hút nước và 01 nõ thủy tinh (ký hiệu M3), 01 quẹt ga.
- Nguyễn Ngọc H bán ma tuý cho một người phụ nữ tên V (không rõ nhân thân lai lịch) 01 lần: Chiều ngày 06/6/2024, một người phụ nữ tên V quen biết qua facebook nhắn tin cho H hỏi mua 500.000 đồng ma túy. H liên hệ T1 xin một số tài khoản để nhận và chuyển tiền, T1 đang ở nhà L và nói L cho số tài khoản. L đọc số tài khoản ngân hàng V2 số [...] tên Nguyễn L cho T1, T1 gửi thông tin cho H. V chuyển vào tài khoản của L 500.000đồng, L đã chuyển lại số tiền này cho H nhưng H chưa giao ma túy cho V.
*Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Chất màu nâu trắng (M1, M2, M3) gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng lần lượt là M1: 0,0219g, M2: 0,0085g, M3: 0,0797g. Mẫu M1, M2, M3 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, trả lại 03 nỏ thuỷ tinh, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát huyện N truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng Điểm b, q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù. Về vật chứng đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy Mẫu vật hoàn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng chất ma túy. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 cái điện thoại di động của bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 2.300.000đồng vào ngân sách nhà nước do thu lợi bất chính từ việc phạm tội của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo pháp luật.
*Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ gồm:
- -Mẫu vật hoàn lại sau giám định chất ma túy theo Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N gồm có 01 nõ thủy tinh, 01 chai nhựa màu trắng dạng quả bí ngô có nắp màu xanh gắn ống hút màu tím hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- -01 gói niêm phong bên trong có 01 chai nhựa màu xanh, trên miệng chai quấn băng keo màu đen hở 02 lỗ tròn, 01 quẹt ga màu tím. Đây là những dụng cụ để Nguyễn Ngọc H sử dụng trái phép chất ma tuý.
- -01 điện thoại di động Iphone màu xanh, mật khẩu 241120, gắn sim 0393526817, số IMEI 352898113411152; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawai màu đen, mật khẩu 241120, gắn sim 0858695990, số IMEI 867615042016987; 01 điện thoại di dộng Realme màu xám, mật khẩu vẽ 1478, gắn sim 0567195105, số IMEI 1: 865496055666170/01. Đây là phương tiện liên lạc để mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Ngọc H.
*Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tách chuyển số vật chứng này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PT để tiến hành điều tra hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, gồm:
- +01 điện thoại di động OPPO màu vàng đồng của Nguyễn Hải K; 01 điện thoại di động Samsung và 01 điện thoại di động Nokia của Trương Văn N1; 01 vỏ chai gắn 01 ống hút nước và 01 nõ thuỷ tinh là dụng cụ mà K và N1 dùng để sử dụng ma tuý;
- +01 chai nhựa trong suốt không có nhãn chai, trên nắp gắn 01 ống hút nước và 01 nõ thuỷ tinh, 01 quẹt ga màu đỏ đây là những dụng cụ để Đào Nhật T1 và Nguyễn L tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo Nguyễn Ngọc H đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa, không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên những người này có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/7/2019, Nguyễn Ngọc H bị Toà án nhân dân huyện Ninh Hải-tỉnh Ninh Thuận, xử phạt 04 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 12/2019/HSST. Đến ngày 12/6/2022 thì H chấp hành xong án phạt tù về địa phương. H bị kết án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xoá án tích. H không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong khoảng thời gian từ ngày 21/5/2024 đến ngày 06/6/2024, H đã thực hiện 07 lần bán ma tuý cho Trương Văn N1, Nguyễn Thành D, Đào Nhật T1 và một số đối tượng khác chưa rõ nhân thân lai lịch trên địa bàn thành phố P-T và huyện N, thu lợi bất chính số tiền 2.300.000đồng. Trong đó: H bán cho Trương Văn N1 03 lần với tổng số tiền 700.000đồng, H đã nhận 400.000đồng; bán cho Nguyễn Thành D 02 lần với tổng số tiền 1.900.000 đồng, H đã nhận 1.400.000 đồng; bán cho Đào Nhật T1 01 lần với số tiền 200.000đồng nhưng chưa nhận tiền; bán cho người phụ nữ tên V 01 lần với số tiền 500.000đồng, H đã nhận đủ tiền. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, với hai tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b, q Khoản 2 Điều 251 BLHS và quyết định truy tố của Viện kiểm sát huyện N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Ngọc H là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Với hành vi phạm tội của bị cáo như trên, HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân: Bị cáo Nguyễn Ngọc H là người có tiền án về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xóa tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, vì vậy cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc. Tuy nhiên cần xem xét cho bị cáo là không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại phiên tòa. HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác:
- +Lời khai ban đầu, Đào Nhật T1 khai buổi chiều ngày 05/6/2024 tại phòng trọ của Nguyễn Ngọc H, H đưa 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý có sẵn chất ma tuý cho T1 sử dụng một vài hơi, H cũng cùng sử dụng. Trương Văn N1 khai vào lần thứ 3 mua ma tuý của H, khi đến nhà trọ thì H đưa bộ dụng cụ sử dụng đã có sẵn ma tuý ra cho N1 và H hút một vài hơi rồi N1 mới lấy ma tuý đi về. Bản thân H lúc đầu cũng thừa nhận nội dung như lời khai của T1, N1 nhưng sau đó H, T1 không thừa nhận nội dung này, N1 hiện không có mặt tại địa phương, nên chưa có đủ căn cứ để xử lý H về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển xử phạt hành chính.
- +Nguyễn Ngọc H khai mua ma túy của người có tài khoản facebook là “Tiến Trần”. H thanh toán bằng quét mã QR nạp game online, nhận ma túy tại điểm hẹn gần cây xăng H3 ở thị trấn P, huyện N. Hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của người có tài khoản facebook là “Tiến Trần” nên tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xem xét giải quyết theo pháp luật.
- +Đối tượng tên V đã mua ma túy của H, không rõ nhân thân lai lịch, hiện Cơ quan cảnh sát đang điều tra, xử lý sau.
- +Đối tượng Nguyễn L cho Nguyễn Ngọc H mượn số tài khoản ngân hàng để nhận tiền bán ma tuý nhưng L không biết đây là tiền bán ma tuý nên không xử lý.
- +Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Trương Văn N1, Nguyễn Hải K, Nguyễn Thành D, Đào Nhật T1 và Nguyễn L: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để điều tra, xử lý.
[7] Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS xử lý:
- +Mẫu vật hoàn lại sau giám định chất ma túy gồm có 01 nõ thủy tinh, 01 chai nhựa màu trắng dạng quả bí ngô có nắp màu xanh gắn ống hút màu tím hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định -là tang vật phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc H, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- +01 gói niêm phong bên trong có 01 chai nhựa màu xanh, trên miệng chai quấn băng keo màu đen hở 02 lỗ tròn, 01 quẹt ga màu tím -là dụng cụ mà Nguyễn Ngọc H sử dụng trái phép chất ma tuý, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- +Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động Iphone màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawai màu đen; 01 điện thoại di dộng Realme màu xám, mật khẩu vẽ 1478 -là phương tiện mà bị cáo Nguyễn Ngọc H dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, có giá trị nên cần phải tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- +Đối với số tiền 2.300.000đồng mà Nguyễn Ngọc H có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho Trương Văn N1, Nguyễn Thành D, Đào Nhật T1 và một số đối tượng khác - là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên phải bị truy thu, buộc bị cáo H phải nộp vào sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào: Điểm b, q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 09 (chín) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/6/2024).
2.Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, theo quyết định tạm giam số 25/2025/HSST-QĐTG ngày 04/3/2025 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
T2: +Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 2.300.000đồng (hai triệu, ba trăm ngàn đồng), do thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- +01 điện thoại di động Iphone màu xanh, mật khẩu 241120, gắn sim 0393526817, số IMEI 352898113411152 của bị cáo Nguyễn Ngọc H.
- +01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawai màu đen, mật khẩu 241120, gắn sim 0858695990, số IMEI 867615042016987 của bị cáo Nguyễn Ngọc H.
- +01 điện thoại di dộng Realme màu xám, mật khẩu vẽ 1478, gắn sim 0567195105, số IMEI 1: 865496055666170/01 của bị cáo Nguyễn Ngọc H.
Tịch thu tiêu hủy:
- +Mẫu vật hoàn lại sau giám định chất ma túy theo Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N gồm có 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa màu trắng dạng quả bí ngô có nắp màu xanh gắn ống hút màu tím hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- +01 gói niêm phong bên trong có 01 chai nhựa màu xanh, trên miệng chai quấn băng keo màu đen hở 02 lỗ tròn, 01 quẹt ga màu tím.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày 20/01/2025.
4.Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H. về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự
