|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HS-PT Ngày: 19 - 3 - 2025 |
NHÂNDANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và ông Trần Công Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lập - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HS-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn C, sinh năm 1960 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Đ3 (đã bị đình chỉ sinh hoạt); con ông Trần K và bà Lê Thị Đ; có vợ là Bùi Thị Đ1, sinh năm 1964 và có con 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 26/6/2024 được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Ông Nguyễn Hồng Đ2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Bà Chu Thị Hồng D, bà Bùi Thị Đ1, ông Trần Xuân H, ông Đặng Ngọc M; đều vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Lê Thị M1, sinh năm 2004; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch công tác tuần số 303/KH-GTTT ngày 14/6/2024 của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thị xã D đã được Lãnh đạo Công an thị xã D phê duyệt để thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm theo chuyên đề “Người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn”, đồng chí Nguyễn Văn C1 - Đội trưởng đã phê duyệt Kế hoạch công tác ngày 17/6/2024, thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút, tổ công tác gồm có 07 đồng chí có tên và nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Đồng chí Thiếu tá Trần Duy C2 - Phó đội trưởng làm Tổ trưởng, thực hiện nhiệm vụ điều hành công tác, dừng xe;
- Đồng chí Trung tá Nguyễn Hồng Đ2 - Tổ viên, làm nhiệm vụ dừng xe và điều khiển xe ô tô biển số 90A - 001.42;
- Đồng chí Thiếu tá Nguyễn Ngọc H1 - Tổ viên làm nhiệm vụ sử dụng thiết bị phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở, số serial: 861000152; thụ lý hồ sơ điều tra, giải quyết các vụ tai nạn giao thông xảy ra trên tuyến trong ca tuần tra kiểm soát theo quy định;
- Đồng chí Thiếu tá Tống Xuân T - Tổ viên làm nhiệm vụ sử dụng thiết bị đo nồng độ cồn trong hơi thở, số serial: 864912;
- Đồng chí Đại úy Nguyễn Hữu H2 - Tổ viên làm nhiệm vụ lập biên bản vi phạm hành chính; ghi sổ kế hoạch và nhật ký tuần tra kiểm soát;
- Đồng chí Thượng úy Phạm Hồng T1 - Tổ viên làm nhiệm vụ lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; ghi sổ giao nhận và thống kê phương tiện dừng kiểm soát;
- Đồng chí Thiếu tá Phạm Xuân K1 - Tổ viên làm nhiệm vụ quản lý phương tiện bị tạm giữ và điều khiển xe ô tô biển số 90B - 3979;
Tổ công tác thực hiện kế hoạch di chuyển đến địa điểm lập chốt kiểm soát là 19 giờ 30 phút ngày 17/6/2024 tại đường T thuộc tổ dân phố C, phường H, thị xã D, đồng chí Trần Duy C2 thông báo triển khai đội hình tuần tra kiểm soát 01 chiều đường T theo hướng H - C và giao nhiệm vụ cho từng tổ viên. Đồng chí Nguyễn Hồng Đ2 được giao nhiệm vụ đứng ở vị trí đầu tiên của tổ công tác, khi các phương tiện đi đến ra tín hiệu bằng đèn pin và gậy chỉ huy giao thông về vị trí đồng chí Trần Duy C2 để đồng chí C2 biết và dừng các phương tiện vào vị trí kiểm soát, đồng chí Tống Xuân T và Nguyễn Ngọc H1 thực hiện nhiệm vụ đo nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện, đồng thời đồng chí Đ2 còn có nhiệm vụ phòng chống các phương tiện vi phạm có biểu hiện quay đầu bỏ chạy thì trực tiếp ra tín hiệu dừng phương tiện. Đồng chí Nguyễn Hữu H2, Phạm Hồng T1 và Phạm Xuân K1 lập biên bản và quản lý phương tiện vi phạm trên vỉa hè.
Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Trần Văn C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ đen BKS 29Z6 - 9359 đi trên đường T hướng H - C với tốc độ khoảng 20 - 25km/h. C quan sát thấy phía trước, cách đầu xe mô của mình khoảng 15m có đồng chí C2, H1 và T mặc quần áo đồng phục màu vàng, có phản quang của lực lượng Cảnh sát giao thông, đầu đội mũ kepi đứng ở mép đường bên phải theo chiều đi của C, C xác định đây là lực lượng Cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường này. Thấy đồng chí C2 cầm gậy chỉ huy giao thông giơ lên cao để ra tín hiệu dừng xe cho một phương tiện đi phía trước C, do không đội mũ bảo hiểm và trong người có nồng độ cồn nên C điều khiển mô tô quay lại bỏ chạy theo hướng C - H để tránh bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe, xử lý hành chính. C điều khiển xe mô tô BKS 29Z-9359 đi về hướng Hòa Mạc với tốc độ khoảng 25-30km/h thì thấy đồng chí Đ2 mặc quần áo đồng phục của lực lượng Cảnh sát giao thông, đầu đội mũ kepi đứng cách đồng chí C2 khoảng 40m, cầm gậy chỉ huy giao thông giơ lên, nháy đèn pin về phía xe mô tô BKS 29Z6-9359 và thổi còi ra tín hiệu để C dừng xe. Lúc này, đồng chí Đ2 đang đứng ở gần giữa đường theo hướng C - H, xe mô tô của C chỉ cách đồng chí Đ2 3-4m nhưng C không dừng xe lại và điều khiển xe mô tô đánh lái về phía bên trái theo chiều đi của mình để tránh đồng chí Đ2 nhằm mục đích bỏ chạy, không để đồng chí Đ2 bắt giữ, xử lý mình nhưng do khoảng cách quá gần nên C đã để phần má lốp bánh trước xe mô tô của C đâm vào chân trái đồng chí Đ2, làm đồng chí Đ2 bị ngã ra đường, xe mô tô BKS 29Z6 – 9359 đổ và C bị ngã ra đường.
Hậu quả: Đồng chí Đ2 bị được đưa đi khám, điều trị tại Trung tâm y tế thị xã D, Bệnh viện đa khoa tỉnh H và Bệnh viện A, đến ngày 23/8/2024, đồng chí Đ2 ra viện; xe mô tô BKS 29Z6 - 9359 bị hư hỏng.
Tạm giữ vật chứng, đồ vật liên quan đến vụ án, kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn C, khám nghiệm hiện trường, khám xe mô tô BKS 29Z6 – 9359 theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 267/KLTTCT-TTGPYK&PY ngày 10/10/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận: “1. Các kết quả chính: Đứt dây chằng chéo trước gối phải được điều trị phục hồi tốt; Rách sụn chêm gối phải; Đứt dây chằng chéo trước gối trái được điều trị phục hồi tốt; 08 sẹo nhỏ hai chân, không ảnh hưởng chức năng; Sưng nề và tụ dịch khớp gối hai bên hiện ổn định; 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hồng Đ2 tại thời điểm giám định là 41% (bốn mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/6/2024, trên cơ sở đơn đề nghị của bị cáo Trần Văn C, bà Bùi Thị Đ1 và anh Trần Xuân H (là vợ và con bị cáo C) đã thống nhất và bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo thoả thuận cho ông Nguyễn Hồng Đ2 số tiền 200.000.000 đồng, ông Đ2 không có yêu cầu đề nghị gì.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Trần Văn C 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 26/6/2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/01/2025, bị cáo Trần Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn C 03 năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm; án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Trần Văn C không có ý kiến tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn C trong thời hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự nên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Trần Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với kết luận giám định thương tích, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 17/6/2024, tại đường T thuộc tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, Trần Văn C điều khiển xe mô tô BKS 29Z6 - 9359 không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thị xã D, quay đầu xe mô tô bỏ chạy, xe mô tô đâm va vào đồng chí Nguyễn Hồng Đ2 đang làm nhiệm vụ đứng ở vị trí gần giữa đường ra tín hiệu dừng xe, làm đồng chí Đ2 bị thương, đứt dây chằng chéo trước gối phải và gối trái, rách sụn chêm gối phải, tổn hại 41% sức khỏe.
Xét thấy, Trần Văn C buộc phải nhận thức được việc điều khiển xe mô tô bỏ chạy có thể đâm va vào đồng chí Nguyễn Hồng Đ2 nhưng Trần Văn C vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra, đồng chí Nguyễn Hồng Đ2 bị thương tích, tổn hại 41% sức khỏe. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã tuyên bố Trần Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy được định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo tham gia quân đội được Nhà nước tặng thưởng Bằng khen, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Ba; bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và được Đảng tặng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng; có chú ruột là Liệt sĩ; có vợ được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, được quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội thì mức hình phạt 03 năm tù mà cấp sơ thẩm đã xử phạt là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; tại phiên tòa phúc thẩm bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm. Kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn C (03) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (19/3/2025).
Giao bị cáo Trần Văn C cho Ủy ban nhân dân phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Trần Văn C không phải chịu.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 17/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Cường - Cố ý gây thương tích
