Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 17/2025/HS-PT

Ngày 12 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Thẩm phán: Bà Đào Nữ Ngọc Lan và bà Phan Thị Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 350/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Mai Thị C và Võ Văn H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Mai Thị C, sinh năm 1961; nơi sinh: huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T và bà Trần Thị S; bị cáo có chồng là Lê Đức A và có 03 con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 24/7/2021, bị Công an xã H, huyện C, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; đã nộp phạt ngày 02/8/2021; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến ngày 03/10/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Mai Thị C: Luật sư Nguyễn Phú H1, sinh năm 1984 – Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

2. Võ Văn H (có tên thường gọi là H2), sinh năm 1979; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: chăn nuôi; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M (đã chết) và bà Trần Thị Đ (đã chết); bị cáo có vợ là Chung Quảng L và có 02 con; tiền án, tiền sự: không bị cáo bị bắt tạm

2

giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến ngày 29/01/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Công an huyện C, tỉnh An Giang trong vụ án khác.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Lê Ngọc D, Trần Văn Ú, Dương Văn Kha L1, Võ Văn P, Hồ Ngọc T1, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Ánh N, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn H3, Đỗ Thanh D2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 03/7/2022, lực lượng Công an huyện C kiểm tra bắt quả tang tại nhà Nguyễn Thị Phương M1 ở ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang do Lê Ngọc D tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền cho nhiều người chơi gồm: Võ Văn H làm cái chính, Đỗ Thanh D2 giúp H làm cái và làm vĩ, Nguyễn Hữu L2 giúp H làm vĩ; những người tham gia đặt cược gồm: Trần Văn Ú (Ú xe ôm), Nguyễn Thị L3, Mai Thị C, Dương Văn Kha L1, Võ Văn P, Hồ Ngọc T1, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Ánh N, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn H3.

Quá trình điều tra xác định:

  • - Võ Văn H đem theo 6.000.000 đồng, trong đó 4.700.000 đồng để trong quần lót mục đích để mua sữa cho con; 1.300.000 đồng dùng để đánh bạc, H trực tiếp làm cái, D2 và L2 giúp H làm cái và làm vĩ, thua 900.000 đồng. Thu giữ của H 5.100.000 đồng, trong đó 400.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Dương Văn Kha L1 đem theo 300.000 đồng để đánh bạc, tham gia 01 ván, đặt cược 50.000 đồng, thua. Thu giữ của L1 250.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Trần Văn Ú đem theo 8.000.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng để trong bóp và được để trong túi quần sau bên phải, mục đích để sửa xe; 3.000.000 đồng để trong túi quần trước mục đích tiêu xài, đánh bạc, tham gia 03 ván, mỗi ván đặt cược 100.000 đồng, thắng 300.000 đồng. Thu giữ của Ú 8.300.000 đồng, trong đó 3.300.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Võ Văn P đem theo 14.060.000 đồng, trong đó 11.000.000 đồng do T3 và P1 đưa để làm giấy tờ đất; 60.000 đồng dùng để mua thức ăn, nước uống; 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc, P tham gia 05 ván, mỗi ván đặt cược 100.000 đồng đến 200.000 đồng, huề vốn. Thu giữ của P 14.060.000 đồng, trong đó 3.000.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Hồ Ngọc T1 đem theo 850.000 đồng để đánh bạc, tham gia 02 ván, mỗi ván đặt cược 100.000 đồng, thua. Thu giữ của T1 650.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Nguyễn Văn H3 đem theo 420.000 đồng, trong đó 20.000 đồng để đi xe ôm về nhà; 400.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia 04 ván, mỗi ván đặt cược

3

  • 100.000 đồng, thua 400.000 đồng. Thu giữ của Hết 20.000 đồng không dùng đánh bạc.
  • - Đặng Thu P2 đem theo 500.000 đồng để đánh bạc, tham gia 02 ván, mỗi ván đặt cược 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thua 150.000 đồng. Thu giữ của P2 350.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Nguyễn Thị D1 đem theo 1.600.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược, thua 1.000.000 đồng. Thu giữ của D1 600.000 đồng dùng đánh bạc.
  • - Nguyễn Thị L3 đem theo 500.000 đồng để đánh bạc, tham gia 01 ván, đặt cược 100.000 đồng, thắng. Thu giữ của L3 500.000 đồng dùng đánh bạc, 100.000 đồng tiền thắng đã cho người lạ mượn.
  • - Nguyễn Thị Ánh N bán vé số kiến thiết được 3.150.000 đồng. Lấy 50.000 đồng đặt cược, thắng 50.000 đồng. Thu giữ của N 3.200.000 đồng, trong đó 100.000 dùng đánh bạc.
  • - Nguyễn Thị Bích T2 đem theo 50.000 đồng để đánh bạc, tham gia 01 ván, đặt 50.000 đồng, thì bị bắt.
  • - Mai Thị C đem theo 160.000 đồng mục đích ban đầu để đánh bạc, nhưng khi tham gia 02 ván thua 100.000 đồng thì nghỉ, đứng xem; còn 60.000 đồng để mua thức ăn, thì bị bắt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã tuyên bố bị cáo Mai Thị C và Võ Văn H phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Mai Thị C 7 tháng tù và Võ Văn H 9 tháng tù. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo khác, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Các bị cáo Mai Thị C và Võ Văn H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 10/02/2025, bị cáo Võ Văn H có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mai Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Văn H.
  • - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Thị C.

* Người bào chữa cho bị cáo C trình bày: thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo; bị

4

cáo là người cao tuổi, có nhiều bệnh nền như huyết áp, xương khớp, tiểu đường; trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức pháp luật hạn chế; mục đích bị cáo đến nơi đánh bạc để gặp bà M1 thu gom tiền hụi, bị cáo không trực tiếp đặt cược mà đưa tiền nhờ người khác đặt hộ. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; về phân hóa vai trò, bị cáo chỉ tham gia đánh bạc với số tiền 100.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến tranh luận với người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là người cao tuổi, có nhiều bệnh nền do đó Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo không làm thay đổi bản chất của vụ án, mức hình phạt 7 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo; trong vụ án này nhiều bị cáo có hành vi phạm tội tương đương với bị cáo nhưng được hưởng án treo do các bị khác có nhân thân tốt, trong khi bị cáo có 01 tiền sự cũng về hành vi đánh bạc. Ngoài ra, trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo trình bày không tham gia đặt cược, chỉ đưa tiền nhờ người khác đặt dùm, điều này thể hiện bị cáo chưa thành khẩn khai báo. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị chỉ áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo C.

* Bị cáo có ý kiến tranh luận: từ giai đoạn điều tra, phiên tòa ở Chợ M bị cáo đều thừa nhận có đặt cược 1 lần 50.000 đồng và 1 lần nhờ người khác đặt cược 50.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm do bị cáo không hiểu câu hỏi của luật sư nên trả lời chưa chính xác.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Mai Thị C và Võ Văn H hợp lệ, kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác

5

không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh:

Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:

Vào ngày 03/7/2022, tại nhà của bà Nguyễn Thị Phương M1 thuộc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang bị cáo Lê Ngọc D (cháu của bà M1), đã sử dụng nhà của bà M1 để tổ chức cho Võ Văn H, Đỗ Thanh D2, Nguyễn Hữu L2 đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền với Trần Văn Ú, Nguyễn Thị L3, Mai Thị C, Dương Văn Kha L1, Võ Văn P, Hồ Ngọc T1, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Ánh N, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn H3 để nhận tiền xâu và tiền bão từ cái lắc (D nhận tiền bão là 350.000 đồng). Đối với các bị cáo H, L2, D2 làm cái lắc, làm vỉ cho các bị cáo Trần Văn Ú, Nguyễn Thị L3, Mai Thị C, Dương Văn Kha L1, Võ Văn P, Hồ Ngọc T1, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Ánh N, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn H3 tham gia đặt với tổng số tiền dùng đánh bạc là 15.450.000 đồng.

Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Võ Văn H, Đỗ Thanh D2, Nguyễn Hữu L2, Trần Văn Ú, Nguyễn Thị L3, Mai Thị C, Dương Văn Kha L1, Võ Văn P, Hồ Ngọc T1, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Ánh N, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn H3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Trong vụ án, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nên được xác định là đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo để xử phạt các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo C và H:

[6.1] Đối với bị cáo Võ Văn H:

6

Bị cáo H trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm, đã tham gia đánh bạc và bị bắt trọng vụ án khác. Ngày 10/02/2025, bị cáo đã có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là tự nguyên, có xác nhận của Công an huyện C, tỉnh An Giang (là nơi đang tạm giam bị cáo). Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị cáo H.

[6.2] Đối với bị cáo Mai Thị C kháng cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo:

Trình bày tại phiên tòa và các tài liệu bổ sung trong giai đoạn phúc thẩm, hiện bị cáo đang bị bệnh cáo huyết áp, xương khớp ..., bị cáo là người cao tuổi, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo; tuy nhiên trong quá trình xét hỏi, bị cáo chưa hiểu rõ câu hỏi nên trả lời chưa chính xác, trong phần tranh luận đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; do đó Hội đồng xét xử vẫn áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tuy nhiên bị cáo có 1 tiền sự về hành vi đánh bạc. Như vậy, bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP. Ngoài ra, hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và tương xứng với sự phân hóa vai trò phạm tội của bị cáo so với các bị cáo khác trong vụ án. Người bào chữa cho bị cáo cho rằng các bị cáo khác có hành vi tương đồng với bị cáo C nhưng được xử mức hình phạt 07 tháng tù hưởng án treo nhẹ hơn bị cáo C là không chính xác, tù treo là hình phạt tù có điều kiện, không nhẹ hơn hình phạt tù giam.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức án phạt tù đối với bị cáo C.

[7] Kháng cáo không được chấp nhậ, nhưng do bị cáo C là người cao tuổi nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

7

Căn cứ khoản 1 Điều 342, khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Văn H.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Thị C.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Mai Thị C phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt Mai Thị C 07 (bảy) tháng tù; khấu trừ cho bị cáo 02 tháng 27 ngày bị tạm giữ tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến ngày 03/10/2023. Thời hạn tù còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (sáu) tháng 03 (ba) ngày tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Mai Thị C được miễn án phí hình sự phúc thẩm được do trường hợp là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí đúng quy định pháp luật.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới (4);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới (1);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (1);
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh An Giang (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh (1);
  • - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh (1);
  • - Phòng TTr, KTr & THA (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Lưu: hồ sơ, Tòa Hình sự; VP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Giao

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 17/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Thị C và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger