Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH


Bản án số: 17/2025/HS-PT

Ngày 09-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hùng

Bà Ngô Thị Kim Châu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-PT, ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST, ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2005, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện nay: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1980 và chị Phạm Thị C, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; anh, em ruột: Có hai người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Trần Ngọc Q, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/8/2024, bị cáo tổ chức uống rượu, bia cùng với Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Thanh H tại nhà của bị cáo thuộc ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Lúc này, bị cáo nhớ sự việc mâu thuẫn với Trần Ngọc Q trước đây và bị cáo biết Q cùng với chị Thảo V đang hát Karaoke tại quán V1, thuộc ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên bị cáo bàn bạc với A và H đi đến quán V1 để đánh Q. Sau đó, bị cáo chuẩn bị cây dao bằng kim loại dài 80cm; H chuẩn bị cây dao dài 58cm; A chuẩn bị cây dao dài 50cm, rồi H điều khiển xe mô tô biển số 84E1-554.96 chở bị cáo và A đi đến quán V1. A và H đứng gần quầy tiếp tân, còn bị cáo đi vào khu vực các phòng hát Karaoke tìm Q, bị cáo phát hiện Q đang hát Karaoke trong phòng số 03, nên bị cáo định xông vào thì bị chị T là chủ quán ngăn cản. Do vậy, bị cáo đi ra ngoài sân và nhìn thấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu vàng-xám, biển số 84AD-047.25 của Q đang đậu, bị cáo đi đến và cầm cây dao bằng kim loại dài 80cm đập phá, chặt chém liên tục nhiều cái vào đầu xe, thân xe bên phải, đuôi xe và hai bánh xe, làm xe mô tô của Q bị hư hỏng yếm phải; ốp thân phải; da bọc yên xe; mặt nạ ngoài; mặt nạ trong; ốp sườn phải; ốp ổ khóa; ốp bịt yếm; ốp nối sườn; chắn bùn khung; giá đỡ yên xe bên trong và bên ngoài; đèn phản quang; cụm đèn xi nhan trước, bên phải; bộ tản nhiệt; vành trước; vỏ trước; vỏ sau; tem Mx kinh (0,5) bộ; pê ca biển số.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL.HĐĐG, ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Tổng trị giá tài sản của anh Q bị hư hỏng là 4.141.424 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST, ngày 15-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, bị cáo Nguyễn Thành Đ làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới.

Quan điểm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một cơ hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo thừa nhận: Bị cáo đã dùng cây dao bằng kim loại, dài 80cm đến đập phá, chặt chém vào đầu xe, thân xe bên phải, đuôi xe và hai bánh xe..., làm chiếc xe mô tô của anh Q hư hỏng nhiều bộ phận. Theo bản kết luận định giá tài sản số 24/KL.HĐĐG, ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Tổng trị giá tài sản của anh Q bị hư hỏng là 4.141.424 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng) (BL 193, 194, 195).

[2] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không thuộc trường hợp đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp làm hư hỏng tài sản của anh Q, nên Tòa án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ.

[3] Tội phạm do bị cáo thực hiện, bị khởi tố, truy tố và xét xử sơ thẩm có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, là tội phạm ít nghiêm trọng. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường, khắc phục cho anh Q toàn bộ giá trị tài sản bị thiệt hại bằng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Tòa án sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đầy đủ và đúng pháp luật.

[4] Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện cho hưởng án treo. Tuy nhiên, về ý thức chủ quan và công cụ, phương tiện do bị cáo và A, H chuẩn bị thực hiện tội phạm gồm 03 (Ba) cây dao, trong đó bị cáo mang theo 01 (Một) cây dao tự chế dài 80cm, cán tròn bằng kim loại dài 37cm được quấn băng keo màu đen, lưỡi dài 43cm bằng kim loại, sắc bén một bề, mũi nhọn, là loại hung khí nguy hiểm. Nếu chị T (Chủ quán Karaoke) không ngăn cản kịp thời thì bị cáo đã xông vào trong phòng anh Q đang hát Karaoke, hậu quả không lường trước được. Hơn nữa, khi được chị T ngăn cản, lẽ ra bị cáo dừng lại và đi trở về nhà, nhưng bị cáo tiếp tục đi đến nơi chiếc xe của anh Q đang đậu và tay cầm cây dao đập phá, chặt chém liên tục vào nhiều vị trí chiếc xe của anh Q. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo tù có thời hạn với mức 06 (Sáu) tháng, là đã xem xét, cân nhắc và là mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử sơ thẩm; đảm bảo trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm; đúng nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội.

[5] Sau khi xét xử sơ thẩm anh Q không làm đơn kháng cáo, nhưng ngày 17/02/2025 anh Q làm đơn gửi cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, đề nghị không xử lý hình sự, rút lại toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 308, 309). Tuy nhiên, khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Chỉ khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại là người dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết”. Về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo khoản 8 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu khởi tổ”. Còn bị cáo bị khởi tố, truy tố và xét xử sơ thẩm về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, không thuộc các điều luật được liệt kê tại khoản 1 Điều 155 và khoản 8 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, không thuộc trường hợp vụ án phải được đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Q xác định chỉ làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Thế nhưng, hành vi và công cụ, phương tiện chuẩn bị phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo như quyết định của bản án sơ thẩm là cần thiết. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Xét thấy, quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ.

[9] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật bằng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thành Đ.
  2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST, ngày 15-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm bằng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  6. Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 85/2025/LCKNCT-HS, ngày 15/01/2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm, cho đến khi bị cáo Nguyễn Thành Đ đi chấp hành án phạt tù.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Trà Vinh;
  • - Bị cáo Nguyễn Thành Đạt;
  • - Bị hại Trần Ngọc Quý;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 17/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản Đ178
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger