|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/HNST Ngày: 10/3/2025 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thành.
Bà Trần Vĩnh Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: /
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 195/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Hoài T, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Số A L, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Mỹ T1, sinh năm 1988.
Địa chỉ thường trú: C1.8, Nhà C, đường H, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2024 và trong quá trình tố tụng như sau:
Ông Bùi Hoài T và bà Phạm Thị Mỹ T1 do mai mối và nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Giữa ông T và bà T1 có một người con chung là Bùi Xuân Q (nữ), sinh ngày 09/3/2015. Quá trình chung sống ông bà không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về mọi quan điểm, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa ông T và bà T1 đã ly thân với nhau, mỗi người đã sống mỗi nơi. Ông và bà T1 đã tìm biện pháp hàn gắn nhưng không mang lại kết quả tốt đẹp. Nay nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn nên ông T xin được ly hôn với bà Phạm Thị Mỹ T1.
Về con chung: Ông T và bà T1 có một người con chung là Bùi Xuân Q (nữ), sinh ngày 09/3/2015. Sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Xuân Q, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bà Phạm Thị Mỹ T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải cùng giấy triệu tập. Ngày 27/02/2025 Tòa án có tiến hành làm việc với bà T1, bà T1 có ý kiến như sau: về quan hệ hôn nhân bà Tiên đồng Ý ly hôn với ông T, do tình cảm đã rạn nứt, hai người đã ly thân hai năm nay. Về con chung bà thống nhất giao cháu Bùi Xuân Q cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T1 không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bà T1 vắng mặt không lý do tại phiên hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Bùi Hoài T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị ly hôn với bà Phạm Thị Mỹ T1; về con chung: đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng bé Xuân Q, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa đương sự không bổ sung chứng cứ, yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục:
Giữa ông Bùi Hoài T và bà Phạm Thị Mỹ T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và bị đơn hiện đang thường trú tại địa bàn quận B, thành phố Cần Thơ nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Xét hôn nhân giữa ông T và bà T1 đã phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do ông, bà bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng kéo dài, cả hai không tìm được tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng không còn đồng cảm, tin tưởng hạnh phúc như thời gian đầu chung sống. Nhiều lần ông, bà tìm biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không mang lại kết quả tốt đẹp, vì vậy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Tại phiên tòa hôm nay, ông T nhất quyết ly hôn với bà T1 vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đồng thời ông T cũng xác định hiện nay ông, bà mỗi người sống một nơi, ông bà đã ly thân hai năm nay. Tuy nhiên thời gian qua kể từ khi phát sinh mâu thuẫn giữa ông bà vẫn không tìm được biện pháp hàn gắn, mâu thuẫn xác định đã trầm trọng, tình cảm dành cho nhau đã không còn và nay ông T cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà T1 không đến Tòa án theo giấy triệu tập để hòa giải nhầm hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời tại buổi làm việc ngày 27/02/2025 bà T1 có ý kiến thống nhất ly hôn với ông T, cho thấy bà T1 đã không còn mong muốn duy trì cuộc hôn nhân với ông T. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp thuận yêu cầu xin ly hôn của ông Bùi Hoài T đối với bà Phạm Thị Mỹ T1 là có cơ sở.
[4] Về con chung: Ông T và bà T1 có một người con chung là Bùi Xuân Q (nữ), sinh ngày 09/3/2015. Ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng bé Q, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy hiện ông T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Q có nguyện vọng được sống với cha. Như vậy để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng và quyền lợi cũng như sự ổn định của bé, Hội đồng xét xử quyết định giao bé Xuân Q cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Hội đồng xét xử dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cho bà T1, không ai được cản trở bà T1 thực hiện quyền này. Đồng thời ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp thuận. Bà T1 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu chứng minh được ông T không nuôi dưỡng con chung tốt, không đảm bảo đủ các điều kiện để cháu Q phát triển toàn diện.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về phía bà T1, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý và thực hiện việc tống đạt Quyết định xét xử theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người vắng mặt Hội đồng xét xử dành quyền kháng cáo cho bà T1 theo quy định của pháp luật.
[6] Ông Bui Hoài T2 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Hoài T được ly hôn với bà Phạm Thị Mỹ T1.
-
Về con chung: Giao con chung là Bùi Xuân Q (nữ), sinh ngày 09/3/2015 cho ông Bùi Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà T1, không ai được cản trở bà T1 thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Bùi Hoài T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số 0001246 ngày 11/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hài |
Bản án số 17/2025/HNST ngày 10/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 17/2025/HNST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn, xin nuôi con
