Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/02/2025

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Đặng Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Bạn
Bà Võ Thị Bời

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 821/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mai T, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Khu phố 5, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn X, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Mai T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc Khánh M kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 06/02/2020. Quá trình chung sống với nhau không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, ông M không có việc làm ổn định để chăm lo cho vợ con, lại thường xuyên gây ra nợ nần. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông M vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến mức không thể hàn gắn được nên từ tháng 02/2023, bà và ông M không còn sống chung với nhau nữa. Nay bà T không còn tình cảm với ông M nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Khánh M.

Về con chung: Vợ chồng bà có một con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày: 12/8/2020. Ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi cháu H và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 12/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc Khánh M trình bày: Ông và bà Trần Thị Mai T kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N. Thời gian đầu, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc, tôn trọng và yêu thương lẫn nhau. Sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do ông không có việc làm và thu nhập ổn định để lo cho vợ con dẫn đến vợ chồng xích mích, kình cãi nhau. Tuy nhiên, hiện nay ông đã có công việc ổn định, cụ thể là làm phụ hồ và sơn nước. Ông vẫn còn tình cảm với bà T nên ông không đồng ý ly hôn với bà T và muốn vợ chồng cùng hàn gắn nuôi dạy con cái.

Về con chung: Vợ chồng ông có một con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày: 12/8/2020. Nếu ly hôn, ông đồng ý giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng ông tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Ngọc Khánh M vẫn không đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung, ông đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Gia H, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Mai T được ly hôn ông Nguyễn Ngọc Khánh M. Về con chung, đề nghị giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày: 12/8/2020 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà T và ông M xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Mai T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Khánh M. Ông M có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mai T và ông Nguyễn Ngọc Khánh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 06/02/2020 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

    Qua lời khai của bà Trần Thị Mai T và ông Nguyễn Ngọc Khánh M, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng bà T và ông M có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông M không có việc làm ổn định để chăm lo cho vợ con, lại thường xuyên gây ra nợ nần dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Từ tháng 02/2023, bà T và ông M không còn sống chung với nhau nữa, không ai quan tâm gì đến ai. Ông M không đồng ý ly hôn với bà T nhưng từ đó đến nay, ông M vẫn không chịu thay đổi. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông M nữa nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông M. Như vậy, giữa bà T và ông M không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà T là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về con chung: Bà Trần Thị Mai T và ông Nguyễn Ngọc Khánh M có một con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày: 12/8/2020. Bà T và ông M đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu H vẫn còn nhỏ và hiện nay bà T là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Do đó, cần tiếp tục giao cháu H cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, nhằm đảm bảo cho cháu H có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất cho tâm sinh lý của trẻ em.
  4. Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mai T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mai T được ly hôn ông Nguyễn Ngọc Khánh M.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày: 12/8/2020 cho bà Trần Thị Mai T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành.

    Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

  3. Về cấp dưỡng: Bà Trần Thị Mai T không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Khánh M cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

    Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà T và ông M đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Mai T và ông Nguyễn Ngọc Khánh Minh xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Trần Thị Mai T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00002947 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - UBND xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang (Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 06/02/2020);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Hồng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger