TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 3 – 2025
Về việc: “Ly hôn và
tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH-TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Đính
2. Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 24/02/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 26/2025/QÐST-DS ngày 14/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, khu phố 1, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1986; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, khu phố I, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 30 tháng 10 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị B1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị B1 và ông Trần Văn L chung sống với nhau và làm thủ tục đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Việc kết hôn và chung sống là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về vấn đề kinh tế trong gia đình, thu nhập của ông L không ổn định nên không phụ giúp được nhiều cho gia đình, bà B1 phải chăm lo kinh tế của cả gia đình từ đó vợ chồng bất hòa, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, kéo dài đã gần 2 năm nay, không thể hàn gắn được vì không còn tình cảm với nhau. Do đó, bà B1 yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống,
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 và Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018. Khi ly hôn bà B1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 và giao con chung tên Trần Hoàng H cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên bà B1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung nên bà B1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Văn L trong quá trình giải quyết vụ án trình bày như sau:
Ông L và bà Nguyễn Thị B1 chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước, việc chung sống và kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Ông L không đồng ý ly hôn với bà B1 vì xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng và vợ chồng vẫn sống chung với nhau một nhà.
Về con chung: Thống nhất vợ chồng có 02 con chung tên Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 và Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung mà không đồng ý giao Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 cho bà B1 trực tiếp nuôi dưỡng vì ông L là người chăm sóc con mỗi khi bà B1 đi làm xa, hiện nay thu nhập ông L cũng ổn định mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng nên ông L đủ điều kiện để nuôi con. Ông L không yêu cầu bà B1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Việc chấp hành theo quy định của pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS;
Về việc chấp hành theo quy định pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm;
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, 51, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27, Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B1: Cho bà Nguyễn Thị B1 được ly hôn ông Trần Văn L; Giao con chung Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 và Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 cho ông Trần Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung; Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết; Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] .Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B1 khởi kiện đối với bị đơn ông Trần Văn L có nơi cư trú tại: phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B1 và ông Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có làm thủ tục đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà B1 cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng xuất phát từ việc ông L không chăm lo kinh tế cho gia đình, công việc không ổn định nên bà B1 phải chăm lo kinh tế cho cả gia đình, từ đó vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn, đời sống chung không có hạnh phúc. Ông L không đồng ý ly hôn, muốn vợ chồng đoàn tụ và xác định vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông L không đồng ý ly hôn nhưng mâu thuẫn vợ chồng của bà B1 và ông L được xác định đã trầm trọng được thể hiện vợ chồng mạnh ai người đó sống, không cùng nhau chăm lo cho gia đình, hiện nay bà B1 phải đi làm xa nhà và cương quyết ly hôn với ông L thể hiện tình cảm không còn. Như vậy, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà B1, cho bà B1 được ly hôn với ông L.
Về con chung: Các đương sự không thống nhất được việc nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn, cụ thể bà B1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 và giao con chung tên Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay bà B1 đi làm thường xuyên xa nhà, 02 con chung đều do ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 muốn được ở cùng cha và cháu H cũng đã gần thành niên có thể tự chăm lo cho cá nhân của mình được, trong khi đó cháu Trần Gia H1 còn nhỏ, bà B1 thường xuyên phải đi làm xa nhà, cháu do ông L trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, để không ảnh hưởng đến sự phát triển và tâm lý của trẻ cần giao 02 con chung cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, yêu cầu của bà B1 về việc trực tiếp nuôi con chung tên Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 là không có cơ sở để chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về nợ chung: Các đương sự thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do bà Nguyễn Thị B1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004668 ngày 24/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3] Về quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 21/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B1.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị B1 được ly hôn với ông Trần Văn L.
Về con chung: Giao 02 chung tên Trần Gia H1 sinh ngày 13/6/2018 và Trần Hoàng H sinh ngày 03/6/2007 cho ông Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004668 ngày 24/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Chu Thị Thu Hà |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
