Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-02-2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Hiện

Ông Nguyễn Văn Lâm

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2024/TLST – HN ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huỳnh Quý T, sinh năm: 1985. Nơi cư trú: 330/1 ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988. Nơi cư trú: 134/1 ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt không có lí do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Quý T trình bày:

Vào năm 2010 anh và chị X có quen biết rồi tiến tới hôn nhân, chúng tôi đi đăng ký kết hôn tại UBND xã A vào ngày 14/5/2010. Cuộc sống hôn nhân của anh và chị X hạnh phúc được thời gian đầu. Cuộc sống hôn nhân của anh và chị X hạnh phúc được khoảng 12 năm thì đến khoảng năm 2022 cuộc sống hôn nhân gần đây của anh và chị X không còn hạnh phúc do vợ chồng nãy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, gia đình hai bên không thể hòa giải hàn gắn được. Sau đó thấy không thể sống chung được nữa nên cũng từ năm 2022 vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân nên tôi yêu cầu ly hôn chị X. Các con chung hiện đang sống với chị X nên anh đồng ý giao các con chung Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Xuân L, sinh ngày 05/5/2014 cho chị X nuôi dưỡng, anh đang đi làm công nhân nên thu nhập không nhiều tôi cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đồng cho mỗi con chung cho đến khi nào các con chung 18 tuổi. Về tài sản chung: anh không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng anh không yêu cầu.

Trong quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị X có lời trình bày:

Chị không đồng ý ly hôn lí do trong cuộc sống hôn nhân chị không sai. Anh T có tình cảm bên ngoài nên mới nãy sính ý định thôi chị. Chị còn thương anh T và mong muốn với chồng sống chung để chăm lo các con. Nếu anh T cương quyết ly hôn thì về con chung chị có ý kiến là các con chung Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Xuân L, sinh ngày 05/5/2014 hiện đang sống với chị, có có nguyện vọng sống với ai người đó nuôi, việc cấp dưỡng chị và anh T tự thỏa thuận. Về tài sản chung: chị và anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Khi sống chung chị và anh T có nợ chung cụ thể: nợ ông Nguyễn Xuân H1 chú ruột anh T 5.000.000 đồng, nợ bà Nguyễn Thị L1 cô ruột anh T 5.000.000 đồng, nợ bà Phạm Thị L2 là dì ruột chị 50.000.000 đồng. Chị yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ trả phân nữa số nợ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Thị X không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Huỳnh Quý T. Anh T không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên đề nghị không xem xét.

Về con chung: Chị X được trực tiếp nuôi các các con chung Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Xuân L, sinh ngày 05/5/2014. Ghi nhận việc anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đồng cho mỗi con chung cho đến khi nào các con chung 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh T và chị X trình bày không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Anh T trình bày vợ chồng sống chung không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Quá trình tố tụng chị X trình bày có nợ chung tuy nhiên quá trình tố tụng chị X không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh chị và anh T khi sống chung có nợ chung nên không xem xét giải quyết nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Căn cứ vào đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Huỳnh Quý T yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị X nên căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.
  2. Chị Nguyễn Thị X hiện đang cư trú tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
  3. Xét việc chị Nguyễn Thị X vắng mặt tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Nguyễn Thị X đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng chị X vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị X theo quy định Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  4. Nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Quý T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  5. Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng anh T và chị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 14/5/2010. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
  6. Xét lời trình bày của anh T cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị X cuộc sống hôn nhân gần đây của anh và chị X không còn hạnh phúc do vợ chồng nãy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, gia đình hai bên không thể hòa giải hàn gắn được. Sau đó thấy không thể sống chung được nữa nên cũng từ năm 2022 vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay.

    Đối với chị Nguyễn Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị X cho thấy nội dung mà anh T đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị X là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng anh T và chị X 8a2ngH8a2nđã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Thế L3 phù hợp.

  7. Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Xuân L, sinh ngày 05/5/2014. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị X và anh T sống ly thân cháu H và cháu L sống cùng chị X. Khi các con chung sống cùng chị X thì các cháu được đi học đầy đủ, đang phát triển tốt cả thể chất lẫn tinh thần. Anh T không sống tại địa phương do thường xuyên phải đi làm ăn xa. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con chung phát triển tốt cả thể chất lẫn tinh thần cần giao 02 con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình tố tụng chị X không có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi các con chung. Tuy nhiên, anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 500.000 đồng cho mỗi con chung cho đến khi nào các con chung 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  8. Về tài sản chung: Anh T và chị X trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. Về nợ chung: Anh T trình bày không có nợ chung. Chị X trình bày khi sống chung có nợ chung, tuy nhiên trong quá trình tố tụng chị X không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh chị và anh T khi sống chung có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. Anh T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  11. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, 147, và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Huỳnh Quý T. Anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị X.

    Anh T và chị X không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị X được trực tiếp nuôi dưỡng các các con chung Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Xuân L, sinh ngày 05/5/2014, ghi nhận việc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi các con chung 18 tuổi, thực hiện cấp dưỡng lần đầu kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Vì lợi ích con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của anh T và chị X có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con

  3. Về tài sản chung: Anh T và chị X trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét
  4. Về nợ chung: Anh T trình bày không có nợ chung. Chị X trình bày khi sống chung có nợ chung, tuy nhiên quá trình tố tụng chị X không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh chị và anh T khi sống chung có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Huỳnh Quý T phải nộp số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003485 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

    + Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Huỳnh Quý T chịu 150.000 (Một trăm năm mười nghìn đồng)

  6. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Thạnh Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
  • - UBND xã An Nhơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Hồng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh Nguyễn Huỳnh Quý Thế yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Xia
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger