|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25/6/2025
Về tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Thanh Liêm.
- Bà Đoàn Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tía – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phùng Duy Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án thành phố S, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 2 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ G, Phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ G, Phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Hải Y, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt
- Anh Hoàng Hải Đ, sinh năm 2006. Địa chỉ: Số nhà C, đường T, tổ G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà A, tiểu khu E, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 10/2/2025, các tài liệu trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn B đăng ký kết hôn ngày 10/1/1994 tại UBND huyện M, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không ai ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do ông Bình thường X uống rượu, nát rượu về chửi mắng vợ con, không chịu làm ăn, bê tha rượu chè. Mặc dù vẫn chung sống cùng nhà nhưng ông B không đi làm, không đưa tiền cho bà T nuôi con và lo cho gia đình. Ông B hứa bỏ rượu nhiều lần nhưng không thay đổi, thường xuyên uống rượu và không chịu lao động để lo cho gia đình. Vì vậy, bà T đề nghị ly hôn với ông B.
Về con chung: Ông bà có 02 con là Hoàng Hải Y, sinh ngày 30/7/1994 và Hoàng Hải Đ, sinh ngày 27/9/2006. Bà T đề nghị được nuôi con là Hoàng Hải Đ đang học đại học và yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ. Tại phiên toà, bà T rút yêu cầu đề nghị ông B phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: nhà đất hai vợ chồng đã thoả thuận cho con nên không có tài sản chung, không yêu cầu Toà giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có. Về nợ chung: Có vay của bà Trịnh Thị T1, trú tại tiểu khu E, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La số tiền 200.000.000đồng để mua nhà cho con Hoàng Hải Đ. Tuy nhiên, ngày 21/5/2025, bà T1 và bà T đã có thoả thuận về phương thức trả nợ và không yêu cầu Toà án giải quyết khoản nợ trên.
* Bị đơn ông Hoàng Văn B đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, hoà giải và công khai chứng cứ và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không tham gia hoà giải và không có mặt tại phiên toà sơ thẩm.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Hoàng Văn B ngày 18/3/2025 (do ông B không tự viết được bản tự khai) ông B trình bày: Ông B xác nhận lời khai của bà T về thời gian đăng ký kết hôn. Về lý do dẫn đến mâu thuẫn là từ tháng 2/2025, do ông B không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nhưng vẫn sống chung một nhà. Đối với đề nghị xin ly hôn của bà T, ông B không nhất trí vì còn các con và tuổi đã cao, mong muốn Toà án hoà giải để đoàn tụ gia đình. Hai ông bà có 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh năm 1994 đã lập gia đình; Hoàng Hải Đ, sinh ngày 27/6/2006 đã trưởng thành. Về tài sản chung: có 01 nhà xây trên tổng diện tích 159m² tại đường T đã làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con Hoàng Hải Đ. Về tài sản riêng: không có. Về nợ chung: không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 15/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Hải Y trình bày: trước đây bố mẹ chị Y (bà T ông B) đã cho chị Y 01 miếng đất có nhà cấp 4 tại Tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Ngày 19/12/2024 cả gia đình đã ra văn phòng công chứng làm Hợp đồng tặng cho chị Y. Giờ hai bố mẹ ly hôn thì thửa đất không phải là tài sản chung của bà T và ông B.
* Tại Bản tự khai ngày 15/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Hải Đ trình bày: hiện nay mảnh đất và nhà tại địa chỉ số nhà C, đường T, tổ G, Phường Q, thành phố S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00372 ngày 14/3/2024 mang tên Hoàng Hải Đ, không phải là tài sản chung của bà T và ông B.
* Tại Bản tự khai ngày 20/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị T1 trình bày vào ngày 10/3/2024 có cho bà Phạm Thị T vay số tiền 200.000.000đ và yêu cầu vợ chồng bà T phải có trách nhiệm trả số tiền trên. Tuy nhiên, ngày 21/5/2025, bà T và bà T1 đã có văn bản thoả thuận giải quyết khoản nợ trên, nếu sau có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện ra toà bằng vụ án riêng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án; thực hiện thu thập giao nhận, công khai chứng cứ đầy đủ đúng quy định. HĐXX, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về nguyên tác xét xử, thành phần, trình tự xét xử sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 điều 244, điểm b khoản 2 điều 227, điều 228, khoản 1 điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điều 51, khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T, xử cho bà Phạm Thị T được ly hôn ông Hoàng Văn B. Đối với tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với khoản nợ chung, bà T có đơn không yêu cầu Toà án giải quyết nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về giải quyết nợ chung. Bà T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa HĐXX nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Xét đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T khởi kiện xin ly hôn ông Hoàng Văn B có địa chỉ cư trú tại Tổ G, Phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được thông báo, triệu tập, giao hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải, xét xử vụ án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Tòa đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và thông báo kết quả cho bị đơn. Người liên quan Hoàng Hải Y, Hoàng Hải Đ, Trịnh Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người liên quan theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn B có đăng ký kết hôn ngày 10/1/1994 tại UBND huyện M, tỉnh Sơn La nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà T nguyên nhân mâu thuẫn là do ông B không có công ăn việc làm ổn định, không đóng góp tiền nuôi con, không giúp đỡ chăm lo gia đình, thường xuyên uống rượu, say rượu về chửi mắng vợ con. Ông B từng phải điều trị các bệnh do ảnh hưởng của rượu như áp xe gan, xơ gan, mặc dù ông B không đưa tiền cho vợ nhưng bà T vẫn luôn có trách nhiệm chữa trị và chăm sóc khi ông B ốm đau. Sau đó ông B nhiều lần hứa sẽ bỏ rượu để chăm chỉ làm ăn nhưng vẫn chứng nào tật đấy, không chịu tu chí làm ăn. Tại biên bản lấy lời khai của ông B ngày 18/3/2025, ông B thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do ông B không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Do đó, việc ông B không chia sẻ công việc, không có thu nhập ổn định để phụ giúp bà T nuôi con và chăm sóc gia đình, thường xuyên uống rượu...thể hiện tình trạng hôn nhân mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần xử cho bà T được ly hôn với ông B.
[4] Về con chung: Hai con chung Hoàng Hải Y và Hoàng Hải Đ đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không giải quyết về con chung. Tại phiên toà bà T rút yêu cầu đề nghị ông B phải cấp dưỡng nuôi con Hoàng Hải Đ mỗi tháng 1.000.000đ. Xét thấy việc rút yêu cầu của bà T là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 2 điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà T đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
[5] Về tài sản chung: Bà T và ông B đều nhất trí tài sản chung đều đã cho các con, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản riêng; Không có, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về nợ chung: Bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu Toà án không giải quyết, bà T và bà Trịnh Thị T1 đã có văn bản thoả thuận tự giải quyết về khoản nợ, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng một vụ án riêng. Xét thấy việc rút yêu cầu của bà T là tự nguyện, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 2 điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu giải quyết nợ chung.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 điều 244, điểm b khoản 2 điều 227, điều 228, khoản 1 điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điều 51, khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Hoàng Văn B.
- Về con chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu giải quyết khoản nợ 200.000.000đ với bà Trịnh Thị T1.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002623, ngày 11 tháng 2 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2025); bị đơn, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Thuý xin ly hôn ông Hoàng Văn Bình
