|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-3-2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thuý Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thanh Nguyên;
2. Ông Chau Rót Tha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau San – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Bà Néang B, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).
Bị đơn: Ông Chau N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ B, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).
Người phiên dịch tiếng khmer: Ông Kim S. Địa chỉ: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Néang B trình bày: Bà Néang B và ông Chau N tự tìm hiểu nhau và quyết định tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang ngày 25/02/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông N không lo làm ăn chăm sóc vợ con và có lời nói xúc phạm bà B, cả hai đã ly thân khoảng một năm nay. Xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông Chau N.
Về con chung: Chau Ny Thai N1, sinh ngày 29/01/2015. Hiện con đang ở cùng bà B nên yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu ông Chau N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu toà án giải quyết. Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Chau N đều vắng mặt, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông N có mặt trình bày ý kiến như sau: Ông N thống nhất về điều kiện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn như ý kiến bà B trình bày, nhưng ông N không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với bà B, về con chung đồng ý giao con chung cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B đối với ông N. Về con chung tiếp tục giao con chung cho bà B nuôi dưỡng, ông N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị xem xét, về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Chau N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ B, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Bà B và ông N chung sống với nhau vào năm 2014 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 và 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Tại phiên tòa bà B xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, bà B yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông N. Riêng ông N không đồng ý ly hôn và mong muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân với bà B vì còn tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng của bà B và ông N đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N có lời nói xúc phạm, không có sự chia sẻ, cảm thông, gắn kết tình cảm vợ chồng khi có mẫu thuẫn xảy ra cả hai không ngồi lại để tìm cách giải quyết, trái lại ông N lại có hành động thiếu tôn trọng bà B làm cho mâu thuẫn ngày càng đẩy lên đỉnh điểm khi bà B phải đưa ra quyết định ly hôn với ông N. Tòa án đã động viên hòa giải đoàn tụ nhưng bà B vẫn cương quyết ly hôn. Khi phát sinh mâu thuẫn và ly thân trong thời gian dài, nhưng hai bên không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà B yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Néang B đối với ông Chau N.
[3] Về con chung: Chau Ny Thai Náth, sinh ngày 29/01/2015. Hai bên không có tranh chấp về con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B. Giao cháu N1 cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Ông N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Néang B đối với ông Chau N. Bà Néang B được ly hôn với ông Chau N.
Về con chung: Giao Chau Ny Thai N1, sinh ngày 29/01/2015 cho bà N2 Bânh tiếp tục nuôi dưỡng, ông N không phải cấp dưỡng việc nuôi con. Bà B cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc ông N thực hiện quyền thăm nom, giáo dục, chăm sóc con. Trên cơ sở lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Bà B phải chịu 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012978 ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thúy Liễu |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Neang B; bị đơn: Chau N
