|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tấn Phát;
- Ông Nguyễn Văn Tới.
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Dương Thị Tiểu Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 639/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ A, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Hoàng Q, sinh năm 1980; địa chỉ: hẻm B, đường N, khu phố E, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2024 của nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:
Chị và anh Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 13-7-2009 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Sau đó cuộc sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm, anh Q không chăm lo cho gia đình, sau đó chị cùng con về sống chung với cha mẹ ruột. Vợ chồng chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay; từ đó, vợ chồng không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Q.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Trần Hoàng Bảo T sinh ngày 31-7-2010; hiện đang sống cùng với chị. Cháu T rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã niêm yết, tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh Trần Hoàng Q đến Toà án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh Q vắng mặt nên không thể hiện được lời trình bày và ý kiến của anh Q.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh Q.
- - Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Hoàng Bảo T cho chị N nuôi dưỡng, ghi nhận chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn là chị Lê Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Trần Hoàng Q đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị N, anh Q là có căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, được nuôi con nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nên căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Trần Hoàng Q tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Chị Lê Thị N và anh Trần Hoàng Q xây dựng gia đình với nhau là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét mâu thuẫn vợ chồng: Chị N anh Q chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, không dung hòa. Năm 2020 chị N cùng con là cháu T về sống cùng với cha mẹ ruột của chị N tại số A, đường E Đ, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, chị N và anh Q không còn sống chung với nhau từ đó cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Trần Hoàng Q nhiều lần để hòa giải giữa hai bên nhưng anh Q không đến Tòa án cho thấy anh Q không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Chị N trình bày vợ chồng chị có 01 con chung tên Trần Hoàng Bảo T sinh ngày 31-7-2010 hiện đang sống cùng với chị. Chị N yêu cầu được nuôi cháu T
Xét thấy, cháu T hiện nay đang sống với chị N ổn định, cháu T rất khỏe mạnh, phát triển bình thường; mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 17-12-2024 thể hiện nguyện vọng của cháu T được sống với mẹ, do đó giao cháu Trần Hoàng Bảo T cho chị Lê Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.
Anh Trần Hoàng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở theo quy định tại các Điều 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Lê Thị N trình bày tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.5] Về nợ chung: chị N trình bày không có, không yêu cầu xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Lê Thị N đối với anh Trần Hoàng Q. Chị Lê Thị N và anh Trần Hoàng Q được ly hôn.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Hoàng Bảo T sinh ngày 31-7-2010 cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ghi nhận chị Lê Thị N không yêu cầu anh Trần Hoàng Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trần Hoàng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: trình bày không có, nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003774 ngày 04-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị N đã nộp xong
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Cẩm Vân |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
