|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG TỈNH CÀ MAU Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày 20 - 3 - 2025 “Về việc ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Liêm
Ông Nguyễn Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ân Tình - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024. Về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Đoàn K, sinh năm 1986 (Có mặt)
Cư trú: ấp Tắc Biển, xã Viên An Đông, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Cư trú: ấp Tắc Biển, xã Viên An Đông, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2024 và các lời khai của nguyên đơn ông Phạm Đoàn K trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và bà Trương Thị L tự nguyện chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký K hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An Đông, huyện Ng, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân giữa tôi và bà L là hôn nhân tự nguyện.
Nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên hay cự cải, hai người tính tình không còn phù hợp, sống với nhau không cảm thấy hạnh phúc, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có K quả. Nay bản thân xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể duy trì bền lâu nên yêu cầu được ly hôn với bà L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Mỹ Duyên, sinh ngày 29/8/2012, con hiện nay đang sống chung với tôi, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu cầu.
Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu.
Đối với bà Trương Thị L, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho bà L biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2024 nhưng bà L không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ bà L để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng bà L không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông K. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng bà L vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà L theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào K quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn bà Trương Thị L có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ng, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ng theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của ông Phạm Đoàn K khởi kiện xin ly hôn với bà Trương Thị L nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà L có đăng ký K hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An Đông, huyện Ng, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy, ông K và bà L đã ly thân từ năm 2013 đến nay thời gian dài nhưng bà L không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của ông, bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông K được ly hôn với bà L là phù hợp.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Mỹ Duyên, sinh ngày 29/8/2012, con hiện nay đang sống chung với ông K, sau khi ly hôn ông K yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho cháu Duyên thì ông K có đủ điều kiện. Xét thấy, cháu Duyên đã sống chung với ông K từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần. Đồng thời phù hợp với đơn ngày 18/3/2025 của cháu Duyên có nguyện vọng được sống với ông K. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho ông K nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với bà L là cha của cháu Duyên vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Ông K trình bày vợ chồng không có tài sản chung, bà L không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì ông K và bà L có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.
[5] Về nợ chung: Ông K trình bày vợ chồng không có nợ chung, bà L không ý kiến gì nên không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Phạm Đoàn K được ly hôn với bà Trương Thị L.
- Về con chung: Giao cho ông Phạm Đoàn K được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Phạm Mỹ Duyên, sinh ngày 29/8/2012. Bà L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Trương Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông K phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), ông K có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0015146 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ng, được chuyển thu.
Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, ông K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bà L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2024 và các lời khai của nguyên đơn ông Phạm Đoàn K trình bày: Về hôn nhân: Tôi và bà Trương Thị L tự nguyện chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký K hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An Đông, huyện Ng, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân giữa tôi và bà L là hôn nhân tự nguyện. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên hay cự cải, hai người tính tình không còn phù hợp, sống với nhau không cảm thấy hạnh phúc, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có K quả. Nay bản thân xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể duy trì bền lâu nên yêu cầu được ly hôn với bà L.2 Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Mỹ Duyên, sinh ngày 29/8/2012, con hiện nay đang sống chung với tôi, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu cầu. Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu.
