TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2025 “V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Lê Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 20/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 19/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/QĐ – HNGĐ, ngày 05/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1979 (vắng mặt).
Quê quán: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên. HKTT: Thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt).
HKTT: Thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1.3 Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
- Trú tại: Tổ B, phố Y, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
- 2.3 Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2002 (vắng mặt).
- HKTT: Thôn C, xã P, huyện K, Hưng Yên.
- 3.3 Cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016 (vắng mặt).
- HKTT: Thôn C, xã P, huyện K, Hưng Yên.
* Người đại diện cho cháu A: Ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị N là bố, mẹ các cháu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, quê quán tại thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, ông, bà đã có thời gian chung sống với nhau trước khi được UBND xã P, huyện K đăng ký kết hôn ngày 14/5/2002.
Sau khi kết hôn, bà chuyển về chung sống cùng ông T tại thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên một thời gian, sau đó vợ chồng chuyển lên Hà Giang sinh sống, cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ngoài ra ông T mải chơi bời, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, vợ con. Đến khoảng năm 2023 vợ chồng bà chuyển về quê bà tại đội A, thôn T, xã C, huyện K sinh sống, quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên mâu thuẫn nên đến năm 2024 thì ông T chuyển về quê tại Thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Mặt khác ông T nghiện ma túy nên ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế, hạnh phúc gia đình, đến tháng 8/2024, ông T đã bị Tòa án nhân dân huyện K ra quyết định cai nghiện bắt buộc, hiện đang phải cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hưng Yên, do thực tế và hoàn cảnh hiện nay cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên xin được ly hôn với ông T.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/4/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Về quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn đúng như bà N trình bày.
Về quá trình chung sống, nguyên nhân và diễn biến mâu thuẫn theo ông T: Sau khi kết hôn bà N chuyển khẩu và về chung sống cùng ông tại thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên, sau đó vợ chồng chuyển lên sinh sống tại Hà Giang một thời gian rồi lại chuyển về quê bà N tại xã C, huyện K sinh sống, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn, bà N có nguyện vọng ở trên đất của bố mẹ đẻ, ông không nhất trí, vợ chồng không có tiếng nói chung nên ông chuyển về nhà bố mẹ đẻ ông tại thôn C, xã P, huyện K sinh sống từ năm 2024. Tháng 7,8/2024 đến nay ông phải đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hưng Yên. Nay bà N xin ly hôn, vì con tình cảm nên và vợ chồng không mâu thuẫn nên ông không nhất trí.
Về con chung: Cả hai khẳng định, vợ chồng bà có ba con chung là chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999; anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2002 và cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016. Chị N1, anh P đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết, còn cháu Đức A hiện đang sinh sống cùng bà N.
Bà N đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đức A và không yêu cầu ông T phải đóng góp nuôi con chung.
Ông T không nhất trí ly hôn nên không có quan điểm gì về việc nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03 của vợ chồng:
Bà N có quan điểm: Không có gì liên quan, bà không yêu cầu đặt ra giải quyết.
Ông T có quan điểm: Ông không nhất trí ly hôn nên ông không yêu cầu đặt ra giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Hồng P có cùng quan điểm trình bày: Anh, chị là con của ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị N. Quá trình chung sống, anh, chị thường xuyên chứng kiến bố, mẹ anh, chị xảy ra mâu thuẫn đánh, cãi nhau, theo anh, chị nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, ông T mải chơi không quan tâm chăm sóc gia đình, gia đình động viên nhưng không có kết quả. Nay bà N xin ly hôn với ông T, anh, chị không mong muốn nhưng cũng tùy bà N và pháp luật quyết định. Quá trình chung sống cùng bố, mẹ, anh, chị không có đóng góp công sức gì nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Đức A trình bày: Cháu là con của ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị N. Bố mẹ cháu sinh được ba chị em là Nguyễn Thị N1; Nguyễn Hồng P và cháu. Quá trình chung sống cháu còn nhỏ nên không rõ nguyên nhân bố mẹ cháu mâu thuẫn, cháu chỉ biết đã từ lâu và ngay hiện nay bố, mẹ cháu không sống cùng nhau. Cháu vẫn thường xuyên ở cùng với mẹ. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở cùng với mẹ, vì từ trước đến nay cháu đều thường xuyên ở cùng mẹ và được mẹ cháu chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ.
Qua xác minh tại UBND xã P ngày 24/4/2025 xác định: Ông Nguyễn Văn T có thời gian chung sống với bà Phan Thị N trước khi đăng ký kết hôn tại UBND xã P ngày 14/5/2002 (Số 19/2002).
Về nguyên nhân và diễn biến mâu thuẫn UBND xã không nắm rõ vì ông bà không làm thủ tục hòa giải tại địa phương. Vợ chồng ông, bà có 03 con chung là chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999; anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2002 và cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03 của vợ chồng; UBND xã không nắm rõ. Việc bà N xin ly hôn với ông T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 227; Điều 228; Điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016 cho bà N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn, ông T được quyền thăm nom và quyền xin thay đổi nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của hai vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, bà N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/3/2025, bà Phan Thị N có đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn T, xin được ly hôn và giải quyết về con chung cũng như các vấn đề có liên quan. Ông Nguyễn Văn T hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hưng Yên, địa chỉ xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên nhưng có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện K thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt do đang phải tập trung để chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, căn cứ điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị N và ông Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, ông, bà đã được UBND xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn vào ngày 14/5/2002 (Số 19/2002), do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Sau thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân từ năm 2024, ông T nghiện ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình phù hợp với trình bày của con ông, bà là chị Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Hồng P. Ông T có quan điểm vợ chồng không mâu thuẫn, mong muốn đoàn tụ nhưng cũng khẳng định do không có tiếng nói chung nên vợ chồng đã không chung sống cùng nhau từ năm 2024 và do nghiện ma túy ông đang phải cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hưng Yên. Nguyện vọng xin đoàn tụ của ông T là chính đáng nhưng xét cuộc sống, hạnh phúc gia đình ông, bà đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cho bà N được ly hôn với ông T.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng ông, bà có 03 con chung là chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999; anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2002 và cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016, hiện chị N1 và anh P đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết, cháu Đức A đang sinh sống cùng bà N. Quá trình giải quyết, bà N xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A, ông T không thể hiện quan điểm về việc chăm sóc nuôi con chung. Xét thấy từ nhỏ cháu A thường xuyên sinh sống cùng bà N, cuộc sống ổn định và đảm bảo nên cần giao cháu A cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Do bà N không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung và ông T không có quan điểm trình bày nên không đặt ra xem xét giải quyết, khi nào ông, bà có yêu cầu sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác. Sau khi ly hôn ông T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung; công nợ chung; công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp 03: Do chị N không yêu cầu và ông T không đưa ra quan điểm trình bày nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào những người liên quan có yêu cầu sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Phan Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; 81; 82; 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử;
- Về hôn nhân: Cho bà Phan Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày: 08/10/2016 cho bà Phan Thị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Việc đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Ông Nguyễn Văn T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung; công nợ chung của vợ chồng; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Phan Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà đã nộp theo Biên lai số 0001801, ngày 04/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Bà N đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 16/6/2025 giữa bà N và ông T