Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2025

Về việc "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Tường

Ông Tạ Quang Trung

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh - Thư ký của Tòa án nhân dân

huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Bị đơn: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết T trình bày:

Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông T1 không lo làm ăn mà còn ghen tuông vô cớ nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nên nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với nội dung yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết T yêu cầu xin được ly hôn với

ông Đặng Văn T1.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Đặng Thị Yến V (nữ), sinh ngày 23/9/2016, bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không.

Bị đơn ông Đặng Văn T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung như bà Nguyễn Thị Tuyết T trình bày là đúng, nay bà T xin ly hôn thì ông có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết T vì ông còn thương vợ con.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Đặng Thị Yến V (nữ), sinh ngày 23/9/2016. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông T1. Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông T1 cho rằng ông còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà T. Ông yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà T khởi kiện xin ly hôn với ông T1 nên xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn, giữa công dân và công dân được pháp luật dân sự điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình. Hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo bà T thì giữa bà và ông T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông T1 không lo kinh tế gia đình và thường tham gia đánh bạc, uống rượu, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin ly hôn với ông T1.

Bị đơn ông T1 cũng thừa nhận có tham gia đánh bạc, uống rượu như trình bày của bà T nhưng không đồng ý ly hôn và hứa sẽ sửa đổi, tuy nhiên trong quá trình giải quyết ông không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông, bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên bà T xin ly hôn với ông T1 là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Xét về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Đặng Thị Yến V (nữ), sinh ngày 23/9/2016. Bà T, ông T1 đều yêu cầu được nuôi con chung. Tuy nhiên, cháu V có nguyện vọng xin được ở với mẹ, phía ông T1 cũng thừa nhận do bận đi làm nên từ trước đến nay con chung là do bà T trực tiếp chăm sóc. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà T, ông T1 xác định là không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo quy định quy định.

[6] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 174, Điều 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 5, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với ông Đặng Văn T1.

- Về con chung: Giao tên Đặng Thị Yến V (nữ), sinh ngày 23/9/2016 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về phần cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1 không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0006694 ngày 27/12/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Điền, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND H. Phong Điền;
  • - Chi cục THADS H. Phong Điền;
  • - UBND xã An Hiệp;
  • - Lưu HS (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cúc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger