|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày 10/3/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.
- Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 421/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1994; địa chỉ: Số A, khu phố D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Tuấn A, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Huỳnh Tuấn A chung sống với nhau từ năm 2021 trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau bất đồng quan điểm sống, vợ chồng có xảy ra xô xác, đánh nhau, sống chung nhưng tự ai nấy lo, tự ai nấy sống. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà Nguyễn Thị Thủy T xin ly hôn với ông Huỳnh Tuấn A.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 01 con chung là Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022. Khi ly hôn bà T nhường quyền nuôi con chung là Huỳnh Tuấn Đ cho ông Huỳnh Tuấn A nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn ông Huỳnh Tuấn A trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thủy T chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường hay cải nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 01 con chung tên Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022. Khi ly hôn ông Tuấn A xin được nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thủy T đối với ông Huỳnh Tuấn A; về con chung: Giao con chung Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022 cho ông Huỳnh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Tuấn A về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thủy T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về thủ tục tố tụng, về nội dung vụ án HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T, bị đơn ông Huỳnh Tuấn A có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Huỳnh Tuấn A là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 13/4/2023 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường hay cải nhau. Bà T xin ly hôn, ông Tuấn A đồng ý ly hôn.
[4] HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T và bị đơn ông Huỳnh Tuấn A đã trầm trọng, không còn chung sống với nhau được nữa. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ, ông Tuấn A cũng đồng ý ly hôn nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung là Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022. Ông Tuấn A xin được nuôi con, bà Tiên đồng Ý cho ông Tuấn A nuôi con nên HĐXX quyết định giao con chung Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022 cho ông Huỳnh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Ông Tuấn A không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX ghi nhận.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T đối với bị đơn ông Huỳnh Tuấn A về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thủy T được ly hôn với ông Huỳnh Tuấn A.
- Về con chung: Giao con chung Huỳnh Tuấn Đ, sinh ngày 21/5/2022 cho ông Huỳnh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tuấn A về việc không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung bà Nguyễn Thị Thủy T. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thủy T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0006620 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Khoa |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
