TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày 04/4/2025 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Thọ
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Văn Tứ - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hải - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 4 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QÐST - HNGĐ ngày 24/3/2025 của Hội đồng xét xử giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hoa L, sinh năm 1984;
Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1980;
Đều có địa chỉ: Khu I, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Chị L có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị Phan Thị Hoa L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau vào ngày 23/02/2009 hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, tôi về làm dâu ngay gia đình nhà anh Đ, ăn ở chung cùng gia đình và làm nghề tự do tại xã địa phương. Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ đi quan hệ bất chính với người khác, tôi phát hiện can ngăn, anh Đ cũng đã xin lỗi tôi, nhưng chứng nào tật ấy, anh Đ vẫn tiếp tục đi quan hệ bất chính về chửi bới vợ con, đến tháng 5/2020 anh Đ bỏ đi theo gái từ đó vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể trở về đoàn tụ với nhau được nữa, nên tôi kiên quyết xin được ly hôn anh Đ để giải thoát cho bản thân.
Về con chung: Tôi xác định vợ chồng không có 02 con chung cháu Trần Nhật D, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Trần Khánh H, sinh ngày 20/8/2015, ly hôn tôi xin nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi.
Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Tôi xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và thông báo nhiều lần anh Đ đến trụ sở Tòa án để giải quyết việc chị L khởi kiện xin ly hôn, nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập và các thông báo hợp lệ do bà Vũ Thị T là mẹ đẻ anh Đ nhận thay và cam kết sẽ chuyển đến cho anh Đ, nhưng anh Đ đều vắng mặt. Bà T cho biết anh Đ hiện nay đi làm ăn, anh Đ vẫn về thăm bà và thường xuyên liên lạc qua điện thoại với bà và gia đình, anh Đ có biết việc chị L đang có đơn xin ly hôn tại Tòa án do gia đình bà thông báo và giao các văn bản của tòa án cho anh Đ. Do phải đi làm ăn, nên anh Đường K về Tòa án để giải quyết được và nói lại với bà là “Kệ nó”. Về con chung bà T cho biết anh Đ và chị L có hai con chung là cháu Trần Nhật D, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Trần Khánh H, sinh ngày 20/8/2015, hiện nay cả hai cháu đang ở với chị L.
Trong quá trình làm việc được UBND xã, công chức tư pháp, Hội phụ nữ và trưởng khu hành chính khu 9 xã H, huyện H cho biết anh Trần Văn Đ và chị Phan Thị H1 L kết hôn với nhau năm 2009. Sau khi kết hôn chị L về làm dâu ngay gia đình anh Đ. Quá trình chung sống của anh, chị hòa thuận hạnh phúc đến khoảng tháng 3 năm 2020 thì xẩy ra mâu thuẫn, anh Đ hiện nay đi làm ăn, không có mặt tại địa phương, còn chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, nên anh, chị đã sống ly thân, còn về mâu thuẫn giữa chị L và anh Đ địa phương không nắm bắt được cụ thể, khu dân cư và địa phương không nhận được đơn đề nghị hòa giải hay bất kỳ đơn thư gì của anh Đ và chị L. Việc chị L xin ly hôn anh Đ địa phương đề nghị tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, tình trạng hôn nhân của anh Đ và chị L để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự. Về con chung đề nghị tòa án căn cứ vào điều kiện thực tế để giao con cho các bên để đảm bảo quyền lợi cho những đứa trẻ chưa thành niên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa có quan điểm giải quyết vụ án như sau:
* Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 - BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70, 72 - BLTTDS.
* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Phan Thị H1 Lưu được ly hôn anh Trần Văn Đ.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cho chị Phan Thị Hoa L trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu Trần Nhật D, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Trần Khánh H, sinh ngày 20/8/2015. Anh Đường K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L do chị Lưu K1 yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết do các bên không yêu cầu.
Về án phí: Chị Phan Thị Hoa L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa chị Phan Thị Hoa L và anh Trần Văn Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Các đương sự đều có nơi cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập chị Phan Thị Hoa L và anh Trần Văn Đ đến Tòa án để làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung của pháp luật, chị L đều có mặt, còn anh Đ vắng mặt không có lý do mặc dù các văn bản của Tòa án do mẹ đẻ anh Đ1 là bà Vũ Thị T nhận thay, đã thông báo và giao lại cho anh Đ. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ngày 05/3/2025 Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 24/3/2025, quyết định này đã được giao, gửi cho các đương sự, đến ngày xét xử chị L có mặt, còn anh Đ vắng mặt không có lý do. HĐXX Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa căn cứ vào khoản 1 Điều 227 - BLTTDS ra quyết định hoãn phiên tòa theo quy định chung của pháp luật và ấn định ngày xét xử trong Quyết định hoãn phiên tòa đồng thời tiến hành giao và gửi quyết định hoãn phiên tòa theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay chị L có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hoa L và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau vào ngày 23/02/2009 trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ đăng ký kết hôn, đây là một hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị L cho rằng do anh Đ đi quan hệ bất chính với người phụ nữ khác về chửi bới vợ con, đến tháng 5/2020 anh Đ bỏ đi theo gái từ đó vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể trở về đoàn tụ với nhau được nữa, nên chị kiên quyết xin được ly hôn để giải thoát cho bản thân. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có mặt tại Toà án để tham gia các phiên họp, phiên hòa giải để bày tỏ quan điểm của mình, mặc dù anh Đ có biết việc chị L đang xin ly hôn và đang được Toà án huyện Hạ Hoà giải quyết. Bà Vũ Thị T là mẹ đẻ anh Đ xác nhận đã nhận được toàn bộ các văn bản của tòa án, bà đã thông báo và giao lại cho anh Đ, do anh Đ đi làm ăn xa nên không thể đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị L được, anh Đ có nói lại là “Kệ nó”, ngoài ra anh không có ý kiến gì, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh Đ là phù hợp quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L xác định vợ chồng có 02 con chung cháu Trần Nhật D, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Trần Khánh H, sinh ngày 20/8/2015, hiện nay cả hai cháu đang ở với chị L, nguyện vọng cả hai cháu xin được ở với mẹ, ly hôn chị L xin được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Đ đều không có mặt để bày tỏ quan điểm của mình về nuôi dưỡng con chung, do anh Đ vắng mặt, nên cần giao cả hai cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và anh Đường K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L do chị Lưu K1 yêu cầu là phù hợp quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Chị Lưu K1 đề nghị tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án chưa làm việc được với anh Đ về các mối quan hệ này, nên không đặt ra giải quyết trong vụ án. Sau ly hôn anh Đ có mặt, các bên có tranh chấp và có yêu cầu thì tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Phan Thị H1 Lưu được ly hôn anh Trần Văn Đ.
- Về con chung: Xử giao cho chị Phan Thị Hoa L trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Trần Nhật D, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Trần Khánh H, sinh ngày 20/8/2015, kể từ tháng 4/2025 cho đến khi các cháu thành niên. Anh Trần Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L do chị Lưu K1 yêu cầu.
Chị L và anh Đ đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: HĐXX không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị Phan Thị Hoa L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003084 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. (Xác nhận chị L đã nộp đủ ).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị L có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh Đ vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Hưng Thủy |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Phan Thị Hoa L và anh Trần Văn Đ
