|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03/03/2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tiền.
2. Ông Đoàn Thị Ngọc Hân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 591/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1980;
Địa chỉ: Số E, khu phố T, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Chổ ở hiện nay: Số nhà B, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Số E, khu phố T, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
(Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh Q vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các biên bản trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc Q tự nguyện kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2024 thì giữa chị và anh Nguyễn Ngọc Q xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Anh chị đã ly thân khoảng hơn 1 năm nay. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Ngọc Q chị yêu cầu ly hôn với anh Q. Khi ly hôn, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 12/07/2004 và Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 29/09/2006 và Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008, hiện tại cháu S và cháu G đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kim N và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án tại biên bản làm việc bị đơn anh Nguyễn Ngọc Q trình bày:
Anh thống nhất những lời trình bày của chị T về thời điểm vợ chồng kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, thường xuyên cự cãi nhưng theo anh đó là mâu thuẫn nhỏ trong đời sống vợ chồng hằng ngày, hai vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay. Tuy nhiên anh vẫn còn thương vợ nên anh không muốn ly hôn. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý. Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì anh không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 12/07/2004 và Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 29/09/2006 và Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008 hiện tại cháu S và cháu G đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh ly hôn thì anh đồng ý để chị T nuôi dưỡng cháu Kim N và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào nội dung trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa chị T, anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T. Về hôn nhân, chị T được ly hôn anh Q. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 12/07/2004 và Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 29/09/2006 và Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008 hiện tại cháu S và cháu G đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết nên không xét đến. Giao cháu Kim N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Ngọc Q là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Q có nơi cư trú tại: Số E, khu phố T, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Q vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Q.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh Q tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/07/2004 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi quá trình giải quyết vụ án tại các biên bản hòa giải chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Q. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng trong quá trình hòa giải anh Q đều vắng mặt, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy anh Q không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện chị T và anh Q không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Q.
Theo biên bản làm việc Tòa án thu thập được vào ngày 18/12/2024 thể hiện chị T và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn, đã ly thân không còn chung sống hạnh phúc với nhau hơn một năm nay. Bản thân anh Q cho rằng vẫn còn tình cảm với chị T, tuy nhiên anh cũng không có cách gì để vợ chồng anh đoàn tụ, hàn gắn được với nhau. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
[3] Về con chung: Chị T và anh Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 12/07/2004 và Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 29/09/2006 và Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008. Hiện tại cháu S và cháu G đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu Kim N và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy cháu N hiện vẫn đang sống với mẹ và được chị T chăm sóc tốt. Tại biên bản ghi nhận ý kiến con ngày 24/12/2024 cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Tại biên bản làm việc anh Q cũng có ý kiến trong trường hợp ly hôn thì anh đồng ý để chị T nuôi dưỡng con chung là cháu N và anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Từ những phân tích trên, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cũng như yêu cầu nguyện vọng của con chung nên việc giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Kim N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật HN&GĐ. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về nợ chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[6] Về án phí: Chị T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Q. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
-
Về con chung: Chị T và anh Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 12/07/2004 và Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 29/09/2006 và Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008. Hiện tại cháu S và cháu G đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến. Giao cháu Nguyễn Ngọc Kim N, sinh ngày 03/09/2008 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ghi nhận việc chị T tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Chị T được quyền trực tiếp nuôi con không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về nợ chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thanh P chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006276 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị T đã nộp xong án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Lan |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T được ly hôn với anh Q
