|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-PT
Ngày 18-11-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện
Các Thẩm phán: Ông Đặng Phi Long
Bà Hoàng Hải Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2025/TLPT-HNGĐ, ngày 20/10/2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 114/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Chu Văn M, Sinh năm 1984.
CCCD số [...] do Bộ C cấp ngày 06/01/2025.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường N, tỉnh Lào Cai; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, Sinh năm 1984;
CCCD số 0151840002735 do Bộ C cấp ngày 20/12/2024.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Lào Cai; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn chị Nguyễn Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Chu Văn M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh M và chị S về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu kỹ càng, được hai bên gia đình đồng ý và đăng ký kết hôn vào ngày 04/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là phường N, tỉnh Lào Cai). Thời gian đầu anh chị về chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quá trình chung sống có nhiều sự khác biệt về quan điểm, lối sống. Anh M làm việc trong môi trường quân đội, do tính chất công việc nên anh thường xuyên phải ở trong đơn vị, chị S là giáo viên nên ở nhà trông nom, chăm sóc các con. Tuy nhiên chị S không thông cảm với công việc của anh, thường xuyên ghen tuông vô cớ, chửi bới xúc phạm anh. Vì nghĩ rằng gia đình nào cũng có mâu thuẫn cãi vã nên anh đều bỏ qua, nhưng mâu thuẫn giữa anh và chị S trở nên căng thẳng cực độ, đỉnh điểm là việc chị S chửi bới, xúc phạm cả bố mẹ đẻ của anh, bắt con gái anh dỡ di ảnh của mẹ anh từ bàn thờ xuống và đổ bát hương thờ mẹ anh. Việc làm này của chị S anh không thể chấp nhận được, những hành vi này anh đều có ghi âm, ghi hình. Ngoài ra trong cuộc sống vợ chồng, chị S không tôn trọng ý kiến của anh, tự quyết mọi việc trong nhà, chị S thường bêu rếu, nói những điều không tốt làm cho con gái anh không nghe lời bố. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 và không quan tâm thăm hỏi gì đến nhau nữa. Đến nay anh xác định vợ, chồng không còn tình cảm với nhau nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị S.
Về con chung:
Quá trình chung sống anh M và chị S có 02 con chung là cháu Chu Vân A - Sinh ngày 10/8/2009 và cháu Chu Nguyễn Tùng L - Sinh ngày 16/9/2010. Hiện cả hai cháu đang chung sống cùng chị S, anh đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/01cháu/01 tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung:
Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:
Chị S nhất trí với lời khai của anh M về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh M có mối quan hệ ngoại tình với một người phụ nữ tên là Phạm Thị H, chị S không biết rõ địa chỉ cụ thể của chị H chỉ biết chị đang ở P hoặc V, tỉnh Phú Thọ. Anh M công khai các hình ảnh, tin nhắn của anh M1 và chị H trên các ứng dụng mạng xã hội. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, chị và hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh M bỏ mặc, không quan tâm đến gia đình vợ con. Chị và anh M đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay không quan tâm đến nhau, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn với anh M.
Về con chung:
Chị thống nhất với anh M về việc trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung, hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng các con. Khi ly hôn chị đề nghị Toà án giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và buộc anh M phải cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/01 cháu/ 01 tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung:
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị S.
-
Về nuôi con:
Giao cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Chu Vân A - Sinh ngày 10/8/2009 và cháu Chu Nguyễn Tùng L - Sinh ngày 16/9/2010.
Anh Chu Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/01 tháng/01 cháu (Hai cháu là 5.000.000 đồng/tháng) kể từ tháng 9/2025 cho đến khi 02 cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 26/9/2025, bị đơn chị S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai.
Ngày 06/11/2025, chị Nguyễn Thị S có đơn đề nghị thay đổi nội dung kháng cáo, chỉ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc anh Chu Văn M phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Chu Vân A và Chu Nguyễn Tùng L số tiền 3.000.000 đồng/01 con/01 tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, ngoài ra không kháng cáo vấn đề gì khác.
Ngày 07/11/2025, anh Chu Văn M có đơn đề nghị, nhất trí với yêu cầu của chị Nguyễn Thị S về việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L số tiền 3.000.000 đồng/01 con/01 tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Chu Văn M và chị Nguyễn Thị S đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại đơn đề nghị ngày 18/11/2025.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị S, sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai về mức cấp dưỡng nuôi con như sau: Anh Chu Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L mức cấp dưỡng là 3.000.000 (Ba triệu) đồng/01 tháng/01 cháu kể từ tháng 9 năm 2025 cho đến khi cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Tuyên án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về những người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự anh Chu Văn M và chị Nguyễn Thị S đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn xét xử vụ án.
- Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị S có đầy đủ các nội dung theo quy định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên được xác định là hợp lệ.
-
Xét nội dung kháng cáo:
-
Tại đơn kháng cáo ngày 26/9/2025, chị Nguyễn Thị S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai, đề nghị Tòa án phúc thẩm xét xử lại vụ án vì những lý do sau:
- Chị không chấp nhận việc anh Chu Văn M vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 18/9/2025, kể cả anh M đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị không đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/01 cháu/01 tháng theo quyết định của bản án. Chị yêu cầu anh Chu Văn M1 phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/01 cháu/01 tháng. Từ thời gian năm 2023 đến nay anh M1 không nuôi dưỡng con khoản tiền nào.
- Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh M trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án là không đúng.
Tuy nhiên trước khi mở phiên toà phúc thẩm, chị S có đơn trình bày chỉ kháng cáo về mức cấp dưỡng nuôi con chung, ngoài ra không kháng cáo vấn đề gì khác. Đối với anh M theo đơn đề nghị xét xử phúc thẩm anh cũng nhất trí với nội dung yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con của chị S.
Xét thấy, những vấn đề chị S trình bày tại đơn kháng cáo ngày 26/9/2025 về việc không chấp nhận việc anh Chu Văn M vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 18/9/2025, không đồng ý với nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh M trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chỉ là ý kiến của chị S, không phải nội dung kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST. Chị S cũng đã có đơn đề nghị rút các ý kiến trình bày này, do đó Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng cáo đối với phần cấp dưỡng nuôi con.
-
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Anh Chu Văn M và chị Nguyễn Thị S có 02 con chung là cháu Chu Vân A - Sinh ngày 10/8/2009 và cháu Chu Nguyễn Tùng L - Sinh ngày 16/9/2010. Quá trình giải quyết vụ án, anh M và chị S thống nhất yêu cầu Tòa án giao cả hai cháu cho chị Nguyễn Thị S nuôi dưỡng vì anh M công tác trong quân đội, thường xuyên phải công tác xa nhà.
Về mức cấp dưỡng nuôi con:
Bản án sơ thẩm xử buộc anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/01 tháng/01 cháu (hai cháu là 5.000.000 đồng/tháng). Sau khi xét xử sơ thẩm chị S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc anh M phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/cháu/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Xét thấy, Bản án sơ thẩm quyết định về mức cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho 02 cháu. Tuy nhiên, quá trình xét xử phúc thẩm ngày 18/11/2025, anh M có đơn đề nghị về việc chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị S, đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con là cháu Chu Vân A và Chu Nguyễn Tùng L 3.000.000 đồng/cháu/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi để các cháu có điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc tốt hơn. Xét thấy, ý kiến của anh M là tự nguyện, do đó cần sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị S về mức cấp dưỡng nuôi con, như vậy đây là sự tự nguyện của các đương sự, Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi
-
-
Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo chị Nguyễn Thị S không phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị S. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lào Cai về mức cấp dưỡng nuôi con như sau:
Anh Chu Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L mức cấp dưỡng là 3.000.000 (Ba triệu) đồng/01 tháng/01 cháu kể từ tháng 9 năm 2025 cho đến khi cháu Chu Vân A và cháu Chu Nguyễn Tùng L trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:
Chị Nguyễn Thị S không phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, chị S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E, số 0001223 ngày 14/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Chí Thiện |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa phần cấp dưỡng
