Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 14-3-2025

Về việc: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch
Các Thẩm phán: Ông Cao Nhật Thanh
Bà Lưu Thị Mỹ Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Tùng – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 64/2024/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1950; nơi cư trú: số H, tổ E, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1957; nơi cư trú: số H, tổ E, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn (đối với tài sản): bà Ha Na P, sinh năm 1985; địa chỉ: số B, đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 29/7/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Bà Lê Khắc Hồng P1, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ B, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  2. Ông Lê Xuân V, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ G, khu phố D, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  3. Ông Lê Xuân B, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Bà Lê Khắc Phương A, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ B, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  5. Bà Lê Khắc Phương N, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ B, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tại Quyết định giám đốc thẩm số 15/2024/HNGĐ-GĐT ngày 06 tháng 6 năm 2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

ông S và bà Trương Thị H sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1976 tại địa chỉ: tổ E, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 21/3/2021 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, lớn tiếng với nhau. Nguyên nhân là do bà H cho rằng ông S có người phụ nữ khác nên mỗi lần ông S đi chơi về, bà H thường chửi mắng, hù dọa, đánh đập, gây áp lực cho ông S. Tuy ngoài xã hội ông S có gần gũi với người phụ nữ khác nhưng chỉ là vui chơi nhất thời. Do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên từ tháng 6 năm 2023, ông S dọn ra ở riêng cùng với các con cho đến nay và cũng từ thời gian này, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà H.

Về con chung:

ông S và bà H có 05 người con chung, gồm: Lê Khắc Hồng P1, sinh năm 1977; Lê Xuân V, sinh năm 1981; Lê Xuân B, sinh năm 1984; Lê Khắc Phương A, sinh năm 1986; Lê Khắc Phương N, sinh năm 1986. Hiện các con đã thành niên.

Về tài sản chung:

quá trình chung sống, vợ chồng tạo lập được được tài sản chung, gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích 1.885,2m² (đo đạc thực tế 1.880,2m²) và 01 căn nhà cấp 4 thuộc thửa đất số 989, tờ bản đồ số 27 tọa lạc khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000

3

do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Lê Văn S và bà Trương Thị H.

- Quyền sử dụng đất diện tích 720,66m² thuộc ô số 17, 18, Lô E – 3 tọa lạc tại khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (đất tái định cư theo Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của Ủy ban nhân dân huyện T, Biên bản cấp đất hỗ trợ tái định cư số VT005 BB-CĐ ngày 23/5/2008 của Công ty L – Singapore và sơ đồ vị trí đất ngày 22/6/2016).

- Số tiền tiết kiệm 3.500.000.000 đồng gửi tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T.

Về nợ chung:

không yêu cầu giải quyết.

Khi ly hôn, ông S yêu cầu chia đôi tài sản chung nêu trên; đối với đất thì yêu cầu được nhận bằng hiện vật; không yêu cầu chia cây trồng và các công trình khác có trên đất.

Ông S đồng ý Mảnh trích lục địa chính lập ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T và Biên bản định giá ngày 25/7/2024.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị H trình bày:

Bà Trương Thị H thống nhất lời trình bày của ông Lê Văn S về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, con chung và tài sản chung là quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với đất.

Về mâu thuẫn vợ chồng:

nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng tháng 9 năm 2023, bà H phát hiện ông S có qua lại với người phụ nữ khác nên thường xuyên kiếm chuyện, gây sự, lớn tiếng với bà H. Vì vậy, bà H và ông S không còn sống chung nhà, không còn quan tâm đến nhau. Do vợ chồng tuổi đã cao nên bà H không đồng ý ly hôn với ông S và không đồng ý chia tài sản chung. Đối với tiền gửi tiết kiệm: bà H thống nhất là tài sản chung nhưng số tiền thực tế gửi tiết kiệm là 2.600.000.000 đồng, bà đã rút số tiền 1.600.000.000 đồng để điều trị bệnh và sử dụng vào sinh hoạt gia đình, hiện còn 1.000.000.000 đồng.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Ha Na P (đối với phần tài sản) trình bày :

Thống nhất với trình bày của ông S về tài sản chung là quyền sử dụng đất. Đối với số tiền tiết kiệm thì hiện còn 1.000.000.000 đồng và bà H không đồng ý chia tài sản chung theo yêu cầu của ông S.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân B trình bày:

Ông B thống nhất với trình bày của ông S về quan hệ hôn nhân, về con chung và tài sản chung là quyền sử dụng đất và căn nhà cấp 4 gắn liền với đất. Trong quá trình chung sống, ông S và bà H đã tặng cho các con mỗi người một phần đất. Tuy nhiên, do ông B sống cùng với cha mẹ từ lúc sinh ra cho đến khi lập gia đình thì ra ở riêng. Trong thời gian sống cùng cha mẹ, ông B có phụ giúp

4

cha mẹ chăn nuôi bò, thu hoạch cao su, canh tác đất nên đề nghị Tòa án tính công sức đóng góp cho ông B với số tiền 1.200.000.000 đồng. Đối với số tiền gửi tiết kiệm thì ông B không biết, không có ý kiến.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Khắc Hồng P1, Lê Xuân V, Lê Khắc Phương A, Lê Khắc Phương N trình bày:

các ông, bà không tranh chấp, không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Lê Văn S trình bày ý kiến:

ông S rút yêu cầu khởi kiện về việc chia quyền sử dụng đất diện tích 720,66m² thuộc ô số 17, 18, Lô E – 3. Đồng thời thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 1.880,2m² thuộc thửa đất số 989, tờ bản đồ số 27 và số tiền gửi tiết kiệm là 2.850.000.000 đồng; không yêu cầu chia căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 989, tờ bản đồ số 27; đồng ý chia cho bà H phần đất gắn liền căn nhà cấp 4, bà H không phải bồi hoàn giá trị căn nhà; phần đất của ai được chia có cây trồng, công trình trên đất thì được quyền quản lý, sử dụng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Ha Na P (đối với phần tài sản) trình bày ý kiến:

đồng ý chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 989, tờ bản đồ số 27 thành 02 phần bằng nhau, bà H có nguyện vọng được nhận phần đất gắn liền căn nhà, vì đây là nơi ở duy nhất của bà H; chỉ đồng ý chia đôi số tiền tiết kiệm là 1.000.000.000 đồng.

Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào:

Các Điều 5, 28, 35, 92, 147, 157, 165, 217, 218, 228 244, 266, 269, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 210, 212, 213 và 468 của Bộ luật dân sự 2015;

Các Điều 17, 19, 29, 33, 56, 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm đ khoản 1 Điều 12, các Điều 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S đối với diện tích đất 720,66m² thuộc ô số 17, 18, Lô E tọa lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S về việc “tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung” với bị đơn bà Trương Thị H như sau:

5

2.1. Về quan hệ hôn nhân: ông Lê Văn S được ly hôn với bà Trương Thị H.

2.2. Về tài sản chung:

2.2.1. Ông Lê Văn S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 940m² (có 83m² đất hành lang bảo vệ an toàn đường bộ); trong đó: đất ở 60m², đất trồng cây lâu năm 880m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 989, tờ bản đồ số 27 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 12 (tại vị trí 1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.2.2. Bà Trương Thị H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 940,2m² (có 166m² đất hành lang bảo vệ an toàn đường bộ); trong đó: đất ở 60m², đất trồng cây lâu năm 880,2m²; được quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4 diện tích 223,5m² (kết cấu: tường gạch xây tô, mái tôn, nền gạch men, trần lợp la phông bằng mê ka) và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 989, tờ bản đồ số 27 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H, được giới hạn bởi các điểm 1, 12, 7, 8, 9, 10, 11 (tại vị trí 2 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.2.3. Ông Lê Văn S được nhận số tiền 1.000.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm AB00005719545 đứng tên bà Trương Thị H được gửi tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2.2.4. Bà Trương Thị H phải trả cho ông Lê Văn S số tiền 425.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H theo quy định của pháp luật về đất đai.

Ông Lê Văn S và bà Trương Thị H có quyền và nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia, giao theo quy định.

4. Ông Lê Văn S có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để nhận số tiền tiết kiệm được chia.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

6

Ngày 28 tháng 6 năm 2021 bị đơn ông Nguyễn Văn R, kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số 73/2021/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024 bị đơn bà Trương Thị H kháng một phần bản án sơ thẩm theo hướng chia đôi số tiền gửi tiết kiệm còn lại 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Trương Thị H bà Hana P2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, chia số tiền tiết kiệm 1.000.000.000 đồng.

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung như sau:

Ông Lê Văn S được nhận số tiền 1.000.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm AB00005719545 đứng tên bà Trương Thị H được gửi tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bà Trương Thị H không phải trả cho ông Lê Văn S số tiền 425.000.000 đồng

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bị đơn bà Trương Thị H có đơn kháng cáo trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Bị đơn bà Trương Thị H chỉ kháng cáo yêu cầu chia đôi số tiền gửi tiết kiệm còn lại 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng)

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự là ông S và bà H đã thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản khi ly hôn; người đại diện hợp pháp của

7

bị đơn Trương Thị H là bà H1-Pi thống nhất ý kiến với nguyên đơn Lê Văn S, không có ý kiến khác; đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bình Dương đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa ông Lê Văn S và bà Trương Thị H; xét xử thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phải được công nhận.

[3] Kháng cáo của bà Trương Thị H là có căn cứ chấp nhận.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ

[5] Về chi phí tố tụng: Các bên đã thực hiện xong.

[6] Về án phí: Các đương sự phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 148, 289, 300 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trương Thị H
  2. Sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn bà Trương Thị H đối với nguyên đơn Lê Văn S về việc chia tài sản chung như sau:
    • Ông Lê Văn S được nhận số tiền 1.000.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm AB00005719545 đứng tên bà Trương Thị H được gửi tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
    • Bà Trương Thị H không phải trả cho ông Lê Văn S số tiền 425.000.000 đồng

8

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị H đối với Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:

Căn cứ vào:

- Các Điều 5, 28, 35, 92, 147, 157, 165, 217, 218, 228 244, 266, 269, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 210, 212, 213 và 468 của Bộ luật dân sự 2015;

- Các Điều 17, 19, 29, 33, 56, 59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12, các Điều 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S đối với diện tích đất 720,66m² thuộc ô số 17, 18, Lô E tọa lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S về việc “tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung” với bị đơn bà Trương Thị H như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: ông Lê Văn S được ly hôn với bà Trương Thị H.

2.2. Về tài sản chung:

2.2.1. Ông Lê Văn S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 940m² (có 83m² đất hành lang bảo vệ an toàn đường bộ); trong đó: đất ở 60m², đất trồng cây lâu năm 880m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 989, tờ bản đồ số 27 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 12 (tại vị trí 1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.2.2. Bà Trương Thị H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 940,2m² (có 166m² đất hành lang bảo vệ an toàn đường bộ); trong đó: đất ở 60m², đất trồng cây lâu năm 880,2m²; được quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4 diện tích 223,5m² (kết cấu: tường gạch xây tô, mái tôn, nền gạch men, trần lợp la phông bằng mê ka) và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 989, tờ bản đồ số 27 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H, được giới hạn bởi các điểm 1, 12, 7, 8, 9, 10, 11 (tại vị trí 2 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).

9

2.2.3. Ông Lê Văn S được nhận số tiền 1.000.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm AB00005719545 đứng tên bà Trương Thị H được gửi tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2.2.4. Bà Trương Thị H phải trả cho ông Lê Văn S số tiền 425.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DG 844104 ngày 02/12/2000 đứng tên ông Lê Văn S và bà Trương Thị H theo quy định của pháp luật về đất đai.

Ông Lê Văn S và bà Trương Thị H có quyền và nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia, giao theo quy định.

4. Ông Lê Văn S có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để nhận số tiền tiết kiệm được chia.

IV Các phần kháng của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

7/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà H không phải nộp, hoàn lại cho ông R 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/20116/0049698 ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân uyên, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Thị Mỹ Hương Bùi Ngọc Thạch
Cao Nhật Thanh

12

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - TỔ HCTP TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.
  • - TAND thị xã Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung.

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger