|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE Bản án số: 17/2025/HC-ST Ngày: 27-6-2025 Về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tiến
Ông Bùi Văn Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số 25/2025/TLST-HC ngày 29 tháng 5 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2102/2025/QĐXXST-HC ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2196/2025/QĐST-HC ngày 25 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
Bà Vũ Thị L, sinh năm 1963; (có mặt)
Địa chỉ: Số A, khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976; (có mặt)
Địa chỉ: Số B, khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Người bị kiện:
UBND huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn Ú - Chủ tịch UBND huyện M. (có đơn xin vắng mặt)
Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
Bà Phạm Thị Hương G - Quyền Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện M. (có mặt)
Ông Bùi Thanh Hùng E - Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án xây dựng huyện M. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, biên bản đối thoại và tại phiên tòa, người khởi kiện là bà Vũ Thị L, người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị L là ông Nguyễn Văn P trình bày:
Vào ngày 28/4/2025, UBND (sau đây viết tắt là UBND) huyện M ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cầu M) thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam). Bà L không đồng ý với việc áp giá bồi thường đất, công trình trên đất và các chính sách hỗ trợ của UBND huyện M đối với bà gia đình bà L. Cụ thể:
- - Về đất: Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre của bà L là đất mặt tiền, khả năng sinh lợi cao, diện tích bị thu hồi lớn... Đặc biệt, cùng là loại đất cây lâu năm nhưng UBND huyện M lại áp cùng giá 5.052.000 đồng/m² với đất cây lâu năm của những hộ phía trong không phải là đất mặt tiền, bị che chắn bởi các thửa đất của các hộ dân khác trong khu vực, điển hình đất của bà Nguyễn Thị T, ông Võ Văn D ở phía trong nhưng được áp giá 5.052.000 đồng/m² bằng với đất mặt tiền của bà L.
- - Về nhà: Căn nhà trên thửa đất số 36 liền kề với thửa đất số 77 do bà L sở hữu có cùng kết cấu, cùng vị trí với nhà, đất của ông Tạ Văn X, nhưng UBND huyện M lại áp giá bồi thường cho bà L thấp hơn rất nhiều so với giá đền bù nhà của ông X, cụ thể: nhà ông Tạ Văn X áp giá đền bù 7.188.720 đồng/m², trong khi nhà của bà L chỉ áp giá đền bù 5.948.000 đồng/m² (chênh lệch 1.240.720 đồng/m²) là chưa thỏa đáng và thiếu công bằng.
- - Về vật kiến trúc: Bồi thường không đúng chủng loại áp giá, nhà có 05 máy lạnh, các cống nước không thể di dời nhưng không được bồi thường và nhiều loại trang thiết bị khác cũng không được hỗ trợ bồi thường.
- Hồ nước tròn năm 2024 chỉ bồi thường giá 1.171.000 đồng/m³ là thấp hơn giá bồi thường năm 2019 của ông Võ Văn Đ và của ông Nguyễn Thanh T1 vào năm 2022.
- - Về chính sách hỗ trợ: Hộ bà L bị giải toả 100% diện tích nhà trong khi bà L không còn chỗ ở nào khác, nhưng UBND huyện M chỉ hỗ trợ ổn định đời sống 01 nhân khẩu trong khi hộ bà L có tới 06 nhân khẩu, không hỗ trợ thuê nhà và ổn định sản xuất, không hỗ trợ nền tái định cư là chưa đúng theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với mức áp giá bồi thường nêu trên, bà L có đơn khiếu nại.
Ngày 13/5/2025, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 1580/QĐ-UBND có nội dung giữ nguyên Quyết định số 1288/QĐ-UBND của UBND huyện M.
Trong khi bà L đang làm thủ tục khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 1288/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại số 1580/QĐ - UBND thì ngày 26/5/2025 Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1786/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà L thuộc thửa 36, tờ bản đồ số 22 và một phần thửa 77, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố E, thị trấn M là vi phạm về thời hạn khiếu nại của bà L (bà L được quyền khiếu nại Quyết định số 1580/QĐ-UBND trong thời hạn 30 ngày).
UBND huyện M chưa viện dẫn căn cứ pháp luật phù hợp, chưa xác minh chứng cứ trong đơn khiếu nại là những hộ dân giao dịch chuyển nhượng đất cùng địa bàn, cùng vị trí như: ông Trần Chí D1, sinh năm 1969 và bà Trần Thị L1 có đất chuyển nhượng đối diện với phần đất mặt tiền thửa 77 của bà L1; ông Bùi Công Khánh Q, sinh năm 1976 và bà Bùi Thị Đ1, sinh năm 1981, địa chỉ: Khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre có đất chuyển nhượng gần với phần đất của bà L1 và nhiều nội dung yêu cầu khác của bà L1 về chính sách hỗ trợ, tái định cư, những bất cập về an sinh xã hội nhưng Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1580 có nội dung chung chung không đưa ra được kết quả xác minh, không đưa ra chứng cứ pháp lý để bác đơn khiếu nại của bà L1 là không đúng quy trình tiếp nhận đơn khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hiện hành.
Do đó, bà L1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam).
- Hủy Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu).
- Hủy Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc cưỡng chế thu hồi đất.
Người bị kiện có ý kiến tại Văn bản số 1415/UBND-NC ngày 03/6/2025, văn bản số 1499/UBND-NC ngày 12/6/2025, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là bà Phạm Thị Hương G và ông Bùi Thanh H Em trình bày:
Đối với Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam), UBND huyện M ban hành dựa trên căn cứ: Điều 87 Luật Đất đai năm 2024; Điều 3 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ; Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 06/5/2020 của UBND tỉnh B về việc ban hành quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024; Quyết định số 23/2021/QĐ- UBND ngày 27/7/2021 của UBND tỉnh B về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020- 2024; Công văn số 7456/UBND-TCĐT ngày 06/11/2024 của UBND tỉnh B về việc tiếp tục áp dụng bảng giá đất đã ban hành để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 43/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 44/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 13845/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 của UBND huyện M.
UBND huyện M ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 là phù hợp và đúng quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án giữ nguyên Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M.
Đối với Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu), Chủ tịch UBND huyện M giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L dựa trên cơ sở: Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ; Quyết định số 43/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 44/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 13845/QĐ-UBND ngày 24/122024 của UBND huyện M.
Khi thực hiện Tiểu dự án giải phóng mặt bằng Cầu Mỏ C thuộc Dự án Nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia - giai đoạn 1 (khu vực phía Nam), việc kiểm đếm, áp giá bồi thường, hỗ trợ đất, vật kiến trúc và các chính sách hỗ trợ là đúng theo quy định tại Quyết định số 43/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 44/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B; Quyết định số 13845/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 của UBND huyện M.
Từ những cơ sở nêu trên, nhận thấy Quyết định số 1580/QĐUBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu) được ban hành là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu hủy quyết định của bà L.
Đối với Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc cưỡng chế thu hồi đất, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định cưỡng chế dựa trên cơ sở: Quyết định số 1641/QĐ-BGTVT ngày 14/12/2022 của Bộ G1 về việc phê duyệt Dự án đầu tư Dự án Nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia - giai đoạn 1 (khu vực phía Nam); Quyết định số 2264/QĐ-UBND ngày 05/10/2023 của UBND tỉnh B; Quyết định số 3288/QĐ-UBND ngày 31/12/2024 của UBND tỉnh B; Điều 87 Luật Đất đai năm 2024 quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 về việc cưỡng chế thu hồi đất, Quyết định được ban hành đúng theo trình tự quy định của Luật Đất đai năm 2024 nên không đồng ý với yêu cầu hủy quyết định của bà L.
Về giá nhà, UBND huyện M áp giá bồi thường nhà của bà Vũ Thị L là phù hợp với quy định tại Quyết định số 43/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024.
Đây là dự án có tính chất quốc gia, việc thực hiện phải trong năm nay, nếu không sẽ bị rút vốn, dự án treo và không thực hiện được nữa, gây thiệt hại lớn. Vì vậy, đề nghị Tòa án sớm giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị L về việc yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam).
- Hủy Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu).
- Hủy Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc cưỡng chế thu hồi đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính xét thấy:
[1] Về tố tụng: Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt đối với người bị kiện.
Bà L có đơn yêu cầu thu thập chứng cứ gửi qua dịch vụ bưu chính, đến Tòa án vào ngày 27/6/2025 (ngay trước khi mở phiên tòa), nội dung đơn yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ 23 và thửa 36, tờ bản đồ 22, cùng tọa lạc tại khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử xét thấy theo Biên bản kiểm đếm số 20/BBKĐ-BQLDA ngày 21/12/2023 của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện M thì đã kiểm đếm tất cả tài sản trên đất của bà L có sự chứng kiến và xác nhận của bà L, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà L là ông P cũng khẳng định bà L không có ý kiến gì về tài sản trên đất, chỉ không đồng ý giá đất, giá nhà và về chế độ hỗ trợ ổn định cuộc sống, tái định cư. Vì vậy, việc xem xét, thẩm định tại chỗ là không cần thiết. Đồng thời, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà L là ông P cũng xin rút yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ gì thêm nên Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[2] Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 28/4/2025, UBND huyện M ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND. Ngày 13/5/2025, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1580/QĐ-UBND. Ngày 26/5/2025, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1786/QĐ-UBND. Ngày 21/5/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhận được đơn khởi kiện của bà L. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính 01 năm vẫn còn.
[3] Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Vũ Thị L nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam).
- Hủy Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu).
- Hủy Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc cưỡng chế thu hồi đất.
Căn cứ các điều 30, 32 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền.
[4] Về thẩm quyền ban hành, tính hợp pháp và căn cứ của quyết định hành chính:
[4.1] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính:
UBND huyện M ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025; Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 và Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 là đúng thẩm quyền theo quy định Luật Đất đai năm 2024, Luật Khiếu nại năm 2011.
[4.2] Về tính hợp pháp và căn cứ của quyết định hành chính:
Thực hiện Quyết định số 1641/QĐ-BGTVT ngày 14/12/2022 của Bộ G1 về việc phê duyệt dự án đầu tư Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam), ngày 05/10/2023 Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định 2264/QĐ-UBND ngày 05/10/2023 về việc phê duyệt Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia - giai đoạn 1 (khu vực phía Nam). Đồng thời, UBND huyện M ban hành Thông báo thu hồi đất số 2825/TB-UBND ngày 07/11/2023 thu hồi thửa 36 diện tích 360m², mục đích sử dụng: đất ở đô thị (100m²) + đất trồng cây lâu năm (260m²), tờ bản đồ số 22; thông báo thu hồi đất số 282/TB-UBND ngày 02/02/2024 thu hồi một phần thửa 77 diện tích 1619.9m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 23, cả hai thửa đất trên tọa lạc thị trấn Mỏ Cày do bà Vũ Thị L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Để thực hiện dự án, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 quy định đơn giá bồi thường cây trồng, vật nuôi; Quyết định số 43/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 quy định đơn giá bồi thường thiệt hại thực tế về nhà, nhà ở, công trình xây dựng; Quyết định 44/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Ngày 24/12/2024, UBND huyện M ban hành Quyết định số 13845/QĐ-UBND phê duyệt giá đất cụ thể làm cơ sở tính tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đến ngày 28/4/2025, UBND huyện M ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam) đối với bà L, số tiền 16.416.089.000 đồng (có phương án chi tiết kèm theo).
Bà L không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với giá bồi thường theo Quyết định số 42/QĐ-UBND, Quyết định số 43/QĐ-UBND, Quyết định số 44/QĐ-UBND cùng ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B và Quyết định số 13845/QĐ-UBND của UBND huyện M nhưng bà L không đồng ý và khiếu nại đối với Quyết định số 1288/QĐ-UBND của UBND huyện M về chi tiết tính giá bồi thường, cụ thể:
Về đất: thửa số 77, tọa lạc tại Khu phố E, bà L không đồng ý giá bồi thường 5.052.000 đồng/m², bà L cho rằng lẽ ra bà phải được bồi thường theo giá thị trường 7.000.000 đồng/m². Nhận thấy, tại tiểu mục 4.4 mục 4 phần II Điều 1 Quyết định số 13845/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 của UBND huyện M ban hành phê duyệt giá đất cụ thể làm cơ sở tính tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định giá đất trồng cây lâu năm ở vị trí số 1 là 5.052.000 đồng/m², trước khi ban hành Quyết định số 13845/QĐ-UBND, UBND huyện M có tiến hành khảo sát giá thị trường của ba thửa đất lân cận có cùng vị trí số 1, có đất giao dịch chuyển nhượng giá từ 4.000.000 đồng đến hơn 5.000.000 đồng/m². Bà L cung cấp hợp đồng đặt cọc mua bán thửa đất số 53 diện tích 215m² ngày 12/5/2025 giữa ông Bùi Văn Đ2, bà Tạ Thị B với bà Lê Thị L2 và ông Nguyễn Thế H1, phần đất này đối diện thửa đất 77 của bà L2, có giá chuyển nhượng 2.170.000.000 đồng (10.093.000 đồng/m²), tuy nhiên theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/5/2025 giữa ông Bùi Văn Đ2, bà Tạ Thị B với ông D2, bà K (con của bà L2, ông H1), giá chuyển nhượng trọn thửa đất 53 chỉ có 100.000.000 đồng là thấp hơn mức giá UBND huyện Mỏ Cày N phê duyệt. Như vậy, UBND huyện M bồi thường cho bà L2 thửa 77 giá 5.052.000 đồng/m² là phù hợp với giá UBND huyện M khảo sát ở địa phương và phù hợp với Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B.
Bà L2 còn cho rằng các chủ đất khác ở phía trong như đất của bà Nguyễn Thị T, ông Tạ Văn D3 bị che chắn bởi các thửa đất khác nhưng được bồi thường giá 5.052.000 đồng/m² bằng với đất mặt tiền của bà L2 là không phù hợp. Xét theo sơ đồ tuyến đường Khu phố 5 do bà L2 cung cấp thể hiện các thửa đất của bà T, ông D3 trong đó có thửa 99 tiếp giáp đường K, nên việc UBND huyện M áp giá bồi thường đất cho bà L2 bằng với mức giá bồi thường cho bà T, ông D3 là phù hợp.
Về nhà ở: bà L2 không đồng ý giá bồi thường 5.948.000 đồng/m², vì bà L2 cho rằng nhà ông Tạ Văn X có cùng kết cấu, cùng vị trí với nhà bà L2 nhưng ông X được bồi thường giá 7.188.720 đồng/m². Nhận thấy, theo phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng huyện M, chi tiết bồi thường nhà ông X và chi tiết bồi thường nhà bà L2, thể hiện nhà ông X có kết cấu khác với nhà bà L2, cụ thể: nhà ông X có kết cấu móng, cột, dầm, sàn bê tông cốt thép, tường bao che xung quanh xây gạch dày 20cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước hoàn thiện, nền gạch bóng kiến, mái tôn tráng kẽm + mái bê tông, trần thạch cao; nhà bà L2 có kết cấu móng, cột, dầm, sàn bê tông cốt thép, tường xây gạch dày 10cm, sơn nước, nền gạch ceramic, mái bê tông, không trần + mái tôn fibrô xi măng trần nhựa. UBND huyện M bồi thường nhà bà L2 5.948.000 đồng/m² là phù hợp theo quy định tại mục III phần I đơn giá bồi thường thiệt hại thực tế về nhà, nhà ở... kèm theo Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B. Do vậy, bà L2 cho rằng phải bồi thường bằng theo giá áp bồi thường cho hộ ông Tạ Văn X với giá 7.188.720 đồng/m² là cũng không có cơ sở chấp nhận.
Về vật kiến trúc: Tại biên bản đối thoại, bà L2 cho rằng không hỗ trợ chi phí di dời 05 máy lạnh, hồ tròn chứa nước và những chi phí khác là không phù hợp nhưng tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà L2 xác định không có yêu cầu, ý kiến về phần này nữa nên không xét đến.
Về chính sách hỗ trợ: bà L2 cho rằng lẽ ra phải hỗ trợ 01 nền tái định cư cho gia đình bà L2, hỗ trợ tiền ổn định đời sống, sản xuất cho 06 nhân khẩu hộ bà L2 sau khi được giải tỏa.
Nhận thấy, tại khoản 39 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định:
“Tái định cư là việc Nhà nước thực hiện bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tại khu tái định cư hoặc địa điểm khác phù hợp cho người có đất thu hồi hoặc hỗ trợ bằng giao đất ở, nhà ở tái định cư cho người không đủ điều kiện bồi thường về đất ở theo quy định của Luật này nhưng không còn chỗ ở nào khác.”.
Thửa số 77 diện tích 2192.6m² do bà L2 đứng tên, sau khi thu hồi diện tích còn lại của bà L2 là 572.7m², trong đó có 100m² đất thổ cư. Như vậy bà L2 còn đất ở khác, nên không đủ điều kiện cấp nền tái định cư theo quy định.
Về chính sách hỗ trợ tiền ổn định đời sống, sản xuất: UBND huyện M đã hỗ trợ cho bà L2 số tiền 13.680.000 đồng/một nhân khẩu là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ, Quyết định 44/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh B.
Như vậy, Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam) đối với bà L2 là có căn cứ.
Không đồng ý các khoản bồi thường, hỗ trợ nêu trên, ngày 05/5/2025, bà L2 gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện M. Ngày 13/5/2025, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1580/QĐ-UBND giải quyết bác đơn khiếu nại của bà L2 là đúng quy định pháp luật.
Đối với việc bà L2 yêu cầu hủy Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà L2 thuộc thửa 36, tờ bản đồ số 22 và một phần thửa 77, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại Khu phố E, thị trấn M: Nhận thấy, ngày 09/5/2025, UBND huyện M ban hành Quyết định số 1520/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa 36 diện tích 360.8m², mục đích sử dụng: đất ở đô thị (100m²) + đất trồng cây lâu năm (206.8m²); một phần thửa 77 diện tích 1619.9m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ:
“1. Người có đất thu hồi, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại về việc kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện kiểm đếm bắt buộc, thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện kiểm đếm bắt buộc, quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành; hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra (nếu có).”
Căn cứ quy định nêu trên, trong khi bà L2 còn quyền khiếu nại Quyết định số 1288/QĐ-UBND, Quyết định 1580/QĐ-UBND thì Chủ tịch UBND huyện M được quyền ban hành Quyết định số 1786/QĐ-UBND cưỡng chế thu hồi đất thuộc thửa 36 và một phần thửa 77 của bà L2.
Do vậy, bà L2 khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M, Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 và Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Vũ Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 158, điểm a Khoản 2 Điều 193; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2024; Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019, Luật Khiếu nại năm 2011 và Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị L về việc yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 28/4/2025 của UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cầu M thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia giai đoạn 1 (khu vực phía Nam).
- Hủy Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 13/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị L (lần đầu).
- Hủy Quyết định số 1786/QĐ-UBND ngày 26/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Bến Tre về việc cưỡng chế thu hồi đất.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Vũ Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Trang |
Bản án số 17/2025/HC-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 17/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
