Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 17/2025/DS-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Hồ Quốc Văn
  • Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Như, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 355/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K

Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Minh Đ, sinh năm 1986, chức vụ: Quản lý khách hàng cá nhân – Ngân hàng TMCP K – CN Cà Mau, P, địa chỉ liên hệ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Quyết định ủy quyền số 1935 ngày 09/7/2024), có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn:

  • Bà Lê Ánh H, sinh năm 1964, vắng mặt
  • Ông Lư Văn D, sinh năm 1964, vắng mặt

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 23/12/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông D, bà H có ký với Ngân hàng TMCP K – Phòng G 02 Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố tài sản, cụ thể: Hợp đồng số A1356664/HĐTD-CC ngày 14/6/2022, số tiền vay 15.000.000 đồng, mục đích vay bán tạp hoá, thời hạn vay là 90 ngày (từ ngày 15/6/2022 đến ngày 12/9/2022), lãi suất 16%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, hình thức thanh toán là trả gốc và lãi hàng ngày, mỗi ngày 115.494 đồng (gốc 111.110 đồng, lãi 4.384 đồng), ngày cuối 115.594 đồng (gốc 85.720 đồng, lãi 6.575 đồng); Hợp đồng số A1356663/HĐTD-CC ngày 14/6/2022, số tiền vay 5.000.000 đồng, mục đích vay bán tạp hoá, thời hạn vay là 90 ngày (từ ngày 15/6/2022 đến ngày 12/9/2022), lãi suất 16%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, hình thức thanh toán là trả gốc và lãi hàng ngày, mỗi ngày 57.742 đồng (gốc 55.550 đồng, lãi 2.192 đồng), ngày cuối 58.242 đồng (gốc 56.050 đồng, lãi 2.192 đồng).

Tài sản cầm cố là xe mô tô nhãn hiệu HONDACKD, số máy 152FMH478649, số khung HHN88B478649, biển kiểm soát 69D1 – 137.41 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số 042108 do Công an huyện T – Công an tỉnh C cấp ngày 18/8/2020 đứng tên ông Lư Văn D. Tài sản do ông D quản lý, sử dụng.

Từ khi vay tiền đến nay, ông D, bà H không thanh toán nợ cho Ngân hàng và đến nay hợp đồng đã quá hạn thanh toán. Tính đến hết ngày 28/02/2025, ông D, bà H nợ Ngân hàng 24.182.466 đồng, trong đó tiền gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 9.182.466 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông D, bà H thanh toán số tiền nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất tại 02 hợp đồng tín dụng đã ký. Đối với tài sản cầm cố thì Ngân hàng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

* Tại biên bản hoà giải ngày 15/01/2025, bà Lê Ánh H trình bày:

Bà H thống nhất với lời trình bày của đại diện Ngân hàng về khoản nợ vay của vợ chồng bà tại Ngân hàng và số tiền hiện còn nợ Ngân hàng.

Nay bà cũng thống nhất cùng với ông D thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến hết ngày 15/01/2025 là 23.749.093 đồng. Và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/01/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Đối với tài sản cầm cố thì bà không yêu cầu Toà án giải quyết tại vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ngân hàng Thương mại cổ phần K khởi kiện yêu cầu ông Lư Văn D, bà Lê Ánh H thanh toán tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, nên đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng; Ông D, bà H có địa chỉ tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn là ông D, bà H được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Ngân hàng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Ngày 14/6/2022, ông D, bà H có ký 02 Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố tài sản với Ngân hàng TMCP K – Phòng G. Cụ thể: Hợp đồng số A1356664/HĐTD-CC ngày 14/6/2022, số tiền vay 15.000.000 đồng, mục đích vay bán tạp hoá, thời hạn vay là 90 ngày (từ ngày 15/6/2022 đến ngày 12/9/2022), lãi suất 16%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, hình thức thanh toán là trả gốc và lãi hàng ngày, mỗi ngày 115.494 đồng (gốc 111.110 đồng, lãi 4.384 đồng), ngày cuối 115.594 đồng (gốc 85.720 đồng, lãi 6.575 đồng); Hợp đồng số A1356663/HĐTD-CC ngày 14/6/2022, số tiền vay 5.000.000 đồng, mục đích vay bán tạp hoá, thời hạn vay là 90 ngày (từ ngày 15/6/2022 đến ngày 12/9/2022), lãi suất 16%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, hình thức thanh toán là trả gốc và lãi hàng ngày, mỗi ngày 57.742 đồng (gốc 55.550 đồng, lãi 2.192 đồng), ngày cuối 58.242 đồng (gốc 56.050 đồng, lãi 2.192 đồng). Do đó, xác định giao dịch vay tiền của ông D, bà H với Ngân hàng là có thật và hợp pháp.

Để đảm bảo khoản vay, ông D, bà H có cầm cố tài sản là xe mô tô nhãn hiệu HONDACKD, số máy 152FMH478649, số khung HHN88B478649, biển kiểm soát 69D1 – 137.41 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số 042108 do Công an huyện T – Công an tỉnh C cấp ngày 18/8/2020 đứng tên ông Lư Văn D. Tài sản do ông D quản lý, sử dụng.

Từ khi vay tiền đến nay, ông D, bà H không thanh toán nợ cho Ngân hàng và đến nay hợp đồng đã quá hạn thanh toán. Tính đến hết ngày 28/02/2025, ông D, bà H nợ Ngân hàng 24.182.466 đồng, trong đó tiền gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 9.182.466 đồng.

Do ông D, bà H đã vi phạm Hợp đồng, không tiếp tục thanh toán vốn lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện ông D, bà H yêu cầu thanh toán nợ là phù hợp. Đồng thời, tại phiên hoà giải bà H cũng thống nhất cùng với ông D thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, cần buộc ông D, bà H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền 24.182.466 đồng, trong đó tiền gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 9.182.466 đồng (tính đến hết ngày 28/02/2025). Ngoài ra, ông D, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/3/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất tại 02 Hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên.

[4] Đối với tài sản cầm cố là chiếc xe mô tô, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn trên 60 tuổi nhưng không có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn được nhận lại tiền nộp tạm ứng án phí.

[6] Các đương sự vắng mặt nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K về việc yêu cầu ông Lư Văn D và bà Lê Ánh H thanh toán nợ vay. Buộc ông Lư Văn D và bà Lê Ánh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K khoản vay còn nợ tính đến hết ngày 28/02/2025 với tổng số tiền 24.182.466 đồng (Hai mươi bốn triệu một trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/3/2025 theo mức lãi suất tại Hợp đồng số A1356663/HĐTD-CC và Hợp đồng số A1356664/HĐTD-CC cùng ngày 14/6/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ.

2. Đối với tài sản cầm cố là xe mô tô nhãn hiệu HONDACKD, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông D, bà H phải chịu 1.209.000 đồng (Một triệu hai trăm lẻ chín nghìn đồng, làm tròn số). Trả lại cho nguyên đơn khoản tiền nộp tạm ứng án phí 579.000 đồng (Năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016725 ngày 26/12/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 17/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Kiên Long - Lư Văn Danh: Tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger